|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ TP. CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/DS-ST
Ngày: 19-7-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Viễn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Hồng Lưu
- Bà Lê Thị Xuân Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lưu Quốc Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 204/2023/TLST- DS ngày 30 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 208/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng T1. Địa chỉ: Số A đường H, phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Người đại diện của nguyên đơn: Ông Trần Hoàng T. Chức vụ: chuyên viên xử lý nợ - Là người đại diện theo ủy quyền - Văn bản ủy quyền số 441/2023/GUQ-CB ngày 04/12/2023 “có mặt”
-
Bị đơn: Ông Cao Nguyễn Bảo D, sinh năm 1985 “vắng mặt”
Bà Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 1985 “vắng mặt”
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 25/9/2023, quá trình tố tụng và tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn trình bày:
Năm 2022 Ngân hàng T1 với ông Cao Nguyễn Bảo D và bà Nguyễn Thị Như Ý ký kết Hợp đồng tín dụng số 167/2022/LOS22/MG001/HĐTD/050 ngày 30/8/2022. Theo đó, Ngân hàng cho vợ chồng ông D vay số tiền 2.200.000.000đồng, mục đích vay bù đắp tiền mua đất ở, thời hạn vay 240 tháng (tính từ ngày 30/8/2022 đến ngày 30/8/2042), lãi suất vay năm đầu tiên 7,8%/năm, từ năm thứ hai trở đi điều chỉnh định kỳ 03 tháng 01 lần, lãi suất cho vay từ năm thứ 2 bằng lãi suất cơ sở 24 tháng cộng biên độ 3,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay, lãi suất nợ quá hạn là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ, vợ chồng ông D ký hợp đồng thế chấp số 167/2022/LOS22/MG001/HĐTC/050 ngày 30/8/2022 thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, các tài sản khác gắ liền với đất của thửa đất số 341, diện tích 1016 m², tờ bản đồ số 02, loại đất ONT 100m², loại đất trồng cây lâu năm 916m², theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000667.CN001 ngày 29/12/2021và thửa đất số 342, diện tích 801,1m², tờ bản đồ số 02, loại đất trồng cây lâu năm, theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 001392.CN001 ngày 29/12/2021 do ông Cao Nguyễn Bảo D đứng tên.
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng vợ chồng ông D vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông D phải trả cho Ngân hàng số tiền vốn 2.153.984.163đồng, tiền lãi 381.668.156đồng, lãi tính đến ngày 19/7/2024 và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán tất nợ.
Quá trình tố tụng, ông Cao Nguyễn Bảo D và bà Nguyễn Thị Như Ý được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Vụ kiện không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa:
Người đại diện của Ngân hàng yêu cầu vợ chồng ông D phải trả cho ngân hàng số tiền 2.535.652.319đồng, trong đó, nợ gốc 2.153.984.163đồng, tiền lãi 381.668.156đồng, lãi tính đến ngày 19/7/2024 và lãi phát sinh cho theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán tất nợ. Trường hợp, vợ chồng ông D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Bị đơn ông D, bà Ý vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Về tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, qua phân tích đánh giá chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông D và bà Ý phải trả cho ngân hàng số tiền 2.535.652.319đồng (bao gồm vốn và lãi) và lãi phát sinh theo mức thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán tất nợ. Trường hợp, ông D, bà Ý không thanh toán nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông D trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký. Do đó, tranh chấp trên được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Về việc tham gia tố tụng: Ông Cao Nguyễn Bảo D và bà Nguyễn Thị Như Ý là bị đơn, không có yêu cầu phản tố được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về tiền vốn vay:
Theo Hợp đồng tín dụng số 167/2022/LOS22/MG001/HĐTD/050 ngày 30/8/2022, vợ chồng ông D vay số tiền gốc 2.200.000.000đồng. Quá trình vay, vợ chồng ông D trả được tiền vốn 46.015.837đồng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông D trả nợ gốc chưa thanh toán với số tiền 2.153.984.163đồng là có căn cứ theo quy định tại Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng.
[2.2] Về tiền lãi:
Theo thỏa thuận trong hợp đồng, lãi suất vay năm đầu tiên 7,8%/năm, từ năm thứ hai trở đi điều chỉnh định kỳ 03 tháng 01 lần, lãi suất cho vay từ năm thứ 2 bằng lãi suất cơ sở 24 tháng cộng biên độ 3,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay, lãi suất nợ quá hạn là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả là phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Quá trình vay, vợ chồng ông D chỉ thanh toán được 61.991.808đồng tiền lãi, số nợ trên đã chuyển nợ quá hạn. Tính đến ngày 19/7/2024 vợ chồng ông D còn nợ tiền lãi với số tiền 381.668.156đồng (kèm bản kê chiết tính tiền lãi ngân hàng cung cấp). Do đó, cần buộc vợ chồng ông D phải trả số tiền trên cho ngân hàng là có căn cứ.
[2.3] Về tài sản thế chấp:
Theo hợp đồng thế chấp số 167/2022/LOS22/MG001/HĐTC/050 ngày 30/8/2022 vợ chồng ông D thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 341, diện tích 1016m², tờ bản đồ số 02, loại đất ONT 100m², đất trồng cây lâu năm 916m², theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000667.CN001 ngày 29/12/2021 và thửa đất 342, diện tích 801,1m², tờ bản đồ số 02, loại đất trồng cây lâu năm, theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 001392.CN001 ngày 29/12/2021 do ông Cao Nguyễn Bảo D đứng tên để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng. Do đó, trường hợp vợ chồng ông D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ.
[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Cao Nguyễn Bảo D và bà Nguyễn Thị Như Ý phải nộp 3.000.000đồng, ngân hàng đã nộp tạm ứng và chi xong nên buộc ông D và bà Ý phải nộp để trả lại cho ngân hàng.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng ông D phải nộp án phí có giá ngạch trên tổng số tiền phải trả cho ngân hàng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với ông Cao Nguyễn Bảo D và bà Nguyễn Thị Như Ý
Buộc ông Cao Nguyễn Bảo D và bà Nguyễn Thị Như Ý phải trả cho Ngân hàng T1 số tiền 2.535.652.319đồng. Trong đó, vốn gốc là 2.153.984.163đồng, tiền lãi 381.668.156đồng lãi tính đến ngày 19/7/2024.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 20/7/2024, vợ chồng ông D còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán tất nợ.
Trường hợp, trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Nếu ông Cao Nguyễn Bảo D và bà Nguyễn Thị Như Ý không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 167/2022/LOS22/MG001/HĐTC/050 ngày 30/8/2022 để thu hồi nợ.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Cao Nguyễn Bảo D và bà Nguyễn Thị Như Ý phải nộp 3.000.000đồng để trả lại cho ngân hàng.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Ông Cao Nguyễn Bảo D và bà Nguyễn Thị Như Ý phải nộp 82.713.000đồng.
Ngân hàng T1 được nhận lại 38.408.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004718 ngày 30 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Án xử công khai, tuyên án có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn
Nguyên đơn có mặt, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, được sửa đổi, bổ sung Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Minh Viễn |
Bản án số 45/2024/DS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 45/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ngân hàng T dòi nợ vợ chồng ông D
