|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2023/DS-ST Ngày: 18 - 8 - 2023 V/v tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Trang và bà Ngô Thị Lệ Thi
- Thư ký phiên tòa: Ông Ông Đoàn Quốc Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 67/2023/TLST-DS ngày 12/5/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2023/QĐXXST-DS ngày 17/7/2023 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Lê Long H (Lê Thanh T), sinh năm 1990, nơi cư trú: Số A, tổ C, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bị đơn: Bà Phạm Thị L (Út T1), sinh năm 1976, nơi cư trú: Tổ F, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lê Long H (Lê Thanh T) trình bày:
Ông và bà L ở cùng xóm với nhau nên có quen biết, từ năm 2021 đến năm 2022; bà L qua nhà mua thẻ điện thoại nhiều lần nên tạo lòng tin. Ông và bà L bắt đầu giao dịch lớn hơn bằng cách ông chuyển tiền học phí cho con gái bà L; chuyển đóng tiền bảo hiểm cho bà L. Sau nhiều lần làm ăn uy tín với nhau bằng phương thức đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản để cho bà L đáo hạn ngân hàng.
Ngày 19/8/2022, hai bên kết sổ bà L có viết biên nhận nợ cho ông với số tiền 1.600.000.000 đồng gồm: Ngày 26/5/2021 vay số tiền 220.000.000 đồng; Ngày 28/5/2021 vay số tiền 330.000.000 đồng; Ngày 05/11/2021 vay số tiền 550.000.000 đồng; Ngày 21/4/2022 vay số tiền 350.000.000 đồng; Ngày 19/8/2022 vay số tiền 150.000.000 đồng.
Tiếp tục Ngày 07/10/2022 bà L vay thêm số tiền 800.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng và hứa sau 03 ngày trả lại là ngày 10/10/2022; bà L có ký tên nhận tiền.
Tổng cộng bà L vay số tiền là 2.400.000.000 đồng. Nay ông H khởi kiện yêu cầu bà L trả nợ số tiền 2.400.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho bà L nhưng bà L vắng mặt nên đã niêm yết theo quy định pháp luật.
Ban ấp M, xã V cho biết, bà Phạm Thị L có đăng ký thường trú tại tổ F, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang. Hiện nay bà L đi đâu, làm gì Ban ấp không rõ, bà L không có trình báo chính quyền địa phương.
Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng không thực hiện được do bị đơn vắng mặt.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; yêu cầu bà L trả số tiền 2.400.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán xác định thẩm quyền; thụ lý quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ đúng theo quy định tại các Điều 48, 195, 196, 198 và Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (viết tắt BLTTDS). Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227, Điều 228 BLTTDS tiến hành xét xử vụ án.
- + Về giải quyết vụ án:
- Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng, nguyên đơn, bị đơn có giao dịch với nhau từ 26/5/2021 đến 07/10/2022 với số tiền 2.400.000.000 đồng. Bị đơn có kết sổ với nguyên đơn, ký tên vào Giấy nợ, biên lai nhận tiền, phiếu chi. Từ đó cho thấy việc vay nợ giữa các bên là trên cơ sở tự nguyện, có lập văn bản, phù hợp quy định pháp luật. Trong thời gian thực hiện hợp đồng phía bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả nợ gốc là có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích trên căn cứ vào các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 2.400.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn là bà Phạm Thị L có nơi cư trú tại thành phố C, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- Xem xét yêu cầu khởi kiện:
- Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:
- - Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 2.400.000.000 đồng, nguyên đơn cung cấp giấy nợ + biên lai nhận tiền cùng ngày 07/10/2022 với số tiền 800.000.000 đồng và Biên lai nhận tiền + Phiếu chi cùng ngày 19/8/2022 số tiền 1.600.000.000 đồng có chữ ký và chữ viết của bên giao là Lê Thanh T và bên nhận là bà Phạm Thị L; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Thấy rằng, các bên ký kết hợp đồng vay tài sản trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Bà L vay tiền của ông T (H) mà không trả là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay, do đó ông T (Huấn) khởi kiện yêu cầu bà L trả nợ số tiền 2.400.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn trả lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Nguyên đơn ông Lê Long H được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí. Hoàn trả cho ông H số tiền 40.000.000 đồng theo biên lai thu số 0003266 ngày 12/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.
Bị đơn bà Phạm Thị L có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí số tiền 80.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo:
Buộc bà Phạm Thị L trả cho ông Lê Long H (Lê Thanh T) số tiền 2.400.000.000 (hai tỷ, bốn trăm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Hoàn trả cho ông Lê Long H số tiền 40.000.000 đồng theo biên lai thu số 0003266 ngày 12/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.
Bà Phạm Thị L phải chịu án phí số tiền 80.000.000 đồng.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ông H có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bà L là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Phương |
Bản án số 45/2023/DS-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản
- Số bản án: 45/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ....
