Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 18/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Thành

Ông Nguyễn Văn Đức

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải – Thư ký

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lâm- Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu phòng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 07/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 05/6/2024 đối với các bị cáo:

1. Đào Văn K, sinh năm 1984

HKTT: Khu phố Ẩ, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Đào Văn N, sinh năm 1956 và bà Đào Thị T, sinh năm 1956; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Không;

Tiền sự: có 01 tiền sự, tại Quyết định số 01 ngày 26/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành (nay là thị xã T) về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đào Văn K trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày 31/8/2021 đến ngày 31/8/2023 chấp hành xong.

Nhân thân:

  • + Ngày 02/6/2007, bị Công an thị trấn H (nay là phường H), thị xã T, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản".
  • + Ngày 20/6/2007, bị U (nay là phường H), thị xã T, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại T thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • + Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 07/2008/HSPT ngày 21/01/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đào Văn K 10 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999. Đã được xóa án tích.
  • + Ngày 27/5/2009, bị Công an huyện T (nay là thị xã T) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” hình thức cảnh cáo.
  • + Ngày 16/6/2011, bị Công an huyện T (nay là thị xã T) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” mức phạt 200.000 đồng.
  • + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2014/HSST ngày 25/6/2014 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đào Văn K 07 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 3 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Buộc K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; phải trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 31.500.000 đồng. Ngày 26/8/2019, chấp hành xong hình phạt tù. Tháng 01/2015 chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Qua xác minh tại chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Du xác định người được thi hành án không có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền 31.500.000 đồng. Đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.

2. Nguyễn Bá L, sinh năm 1981

HKTT: Khu phố N, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Nguyễn Bá H, sinh năm 1952 và bà Hoàng Thị L1, sinh năm 1954; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ là Bùi Thị N1, sinh năm 1987; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2020

Tiền án, tiền sự: Chưa có

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.

Bị hại: Công ty TNHH X.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T1 – Giám đốc.

Địa chỉ: Khu phố Đ, phường S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Đoàn Khắc Q, sinh năm 1989. Xin vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, Bắc Ninh

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1988. Xin vắng mặt

Địa chỉ: Khu phố C, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh

* Người tham gia tố tụng khác:

Cán bộ phụ trách tin học thuộc TAND thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam công an tỉnh B

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Văn K, sinh năm 1984, hộ khẩu thường trú (HKTT): Khu phố Ẩ, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh có quen biết và chơi với Nguyễn Bá L, sinh năm 1981, HKTT: Khu phố N, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 07 giờ ngày 19/02/2024, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát (BKS) 99F1-500.75 đi từ nhà Khắc đến huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Khi đi đến đoạn ngã tư Đ, thị trấn Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh thì K nhìn thấy L đang đi bộ trên đường hướng về thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Vì vậy, K điều khiển xe đi đến chỗ L bảo L lên xe K chở về. L đồng ý. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang trên đường về, K nhớ ra tại đoạn đường bờ sông Đ giáp với Trường Đại học K1 (T07) thuộc phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh có hàng rào ngăn cách với bờ sông bằng dây xích sắt. Vì vậy, K rủ L trộm cắp các dây xích sắt để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. L đồng ý. Do cần có công cụ để tháo các dây xích sắt nên khi đi đến gần cây xăng thuộc khu phố N, phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, K dừng xe lại đi tìm thì nhặt được 01 chiếc xà cầy bằng kim loại, dài khoảng 60cm cài vào sườn cạnh chỗ để chân của xe mô tô rồi tiếp tục điều khiển xe chở L đi. Khi đi đến đoạn đường ven sông Đ, giáp Trường T2 thì K dừng xe lại rồi xuống xe lấy xà cầy cắt các điểm nối giữa các dây xích sắt và trụ hàng rào, còn L đứng cảnh giới và đỡ các dây xích sắt mà K cắt được đưa cho L. Khắc cắt được 03 dây xích sắt nguyên vẹn, mỗi dây đều dài 4,37m, còn 03 dây bị rời ra thành 06 dây ngắn (gồm 03 dây mỗi dây đều dài 1,92m và 03 dây mỗi dây đều dài 2,45m). Tổng cộng 09 dây xích sắt có tổng chiều dài là 26,22m. Khắc và L cùng nhau bê lên gác ba ga xe mô tô. Sau đó, K điều khiển xe mô tô chở L mang dây xích sắt đến cửa hàng thu mua sắt vụn ở khu phố C, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh do chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1988, HKTT: Tổ dân phố số A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định bán. Tại đây, K và L cân số xích sắt trên được 42kg, thỏa thuận giá bán với chị S là 8.500 đồng/kg, được 357.000 đồng nhưng chị S chỉ trả cho K và L 350.000 đồng. K cầm tiền rồi cùng L đi về tiêu xài cá nhân hết.

Khoảng 18 giờ cùng ngày, K điều kiển xe mô tô nêu trên một mình đi từ nhà đến đoạn đường ven sông Đ, đoạn giáp Trường T2 thuộc phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh để tiếp tục trộm cắp xích sắt. Khi đến nơi, K lấy 01 chiếc xà cầy nêu trên được gài sẵn ở xe mô tô ra cắt 09 dây xích sắt (mỗi dây dài 4,37m) có tổng chiều dài là 39,33m. Sau đó, K bê các dây xích sắt lên gác ba ga của xe rồi điều khiển xe đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Nguyễn Thi S1 bán. Tại đây, K cân 09 dây xích sắt được 60kg, thỏa thuận giá bán với chị S1 là 8.500 đồng/kg, được 510.000 đồng. K cầm tiền rồi điều khiển xe đi về nhà. Khi đi trên đường QL38, K đã vứt chiếc xà cầy đi nhưng không nhớ vị trí cụ thể đã vứt. Số tiền có được K đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 22/02/2024, Đào Văn K và Nguyễn Bá L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T xin đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Ngày 22/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T ra Yêu cầu định giá tài sản số 439 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T xác định giá trị 09 dây xích sắt trong đó có 03 dây mỗi dây đều dài 4,37m và 06 dây ngắn (gồm 03 dây mỗi dây đều dài 1,92m và 03 dây mỗi dây đều dài 2,45m) có tổng chiều dài là 26,22m; có trọng lượng 42kg và 09 dây xích sắt (mỗi dây dài 4,37m) có tổng chiều dài là 39,33m, có trọng lượng 60kg bị chiếm đoạt ngày 19/02/2024.

Tại Kết luận định giá tài sản số 10 ngày 22/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T kết luận:

  • + 09 dây xích sắt trong đó có 03 dây mỗi dây đều dài 4,37m và 06 dây ngắn (gồm 03 dây mỗi dây đều dài 1,92m và 03 dây mỗi dây đều dài 2,45m) có tổng chiều dài là 26,22m; có trọng lượng 42kg, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 2.345.772 đồng.
  • + 09 dây xích sắt (mỗi dây dài 4,37m) có tổng chiều dài là 39,33m, có trọng lượng 60kg, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 3.518.658 đồng.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số 45/CT-VKS –TT ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố bị cáo Đào Văn K, Nguyễn Bá L phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và công nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành truy tố là đúng.

Anh Đoàn Khắc Q là người đại diện theo uỷ quyền của bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại các lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Công ty TNHH X đã nhận được tài sản, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự.

Bà Nguyễn Thị S là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại các lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án bà không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 44/CT-VKS –TT ngày 06/5/2024. Trong phần luận tội đã phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đào Văn K, Nguyễn Bá L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS xử phạt:

Xử phạt bị cáo Đào Văn K từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/02/2024.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS xử phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá L từ 06 Đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 từ đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo L bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Nguyễn Bá L cho UBND phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không có ai có yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét giải quyết.

Các bị cáo sau khi nghe luận tội của Đại diện Viện kiểm sát thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.

1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếunại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

Lời khai của bị cáo K, bị cáo L tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản định giá tài sản có căn cứ xác định:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 19/02/2024, tại đoạn đường bờ sông Đ giáp với Trường T2 thuộc phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, Đào Văn K, Nguyễn Bá L đã có hành vi lén lút trộm cắp 09 dây xích sắt trong đó có 03 dây mỗi dây đều dài 4,37m và 06 dây ngắn (gồm 03 dây mỗi dây đều dài 1,92m và 03 dây mỗi dây đều dài 2,45m) có tổng chiều dài là 26,22m; tổng trọng lượng 42kg của Công ty TNHH X. Tại thời điểm bị chiếm đoạt 09 dây xích sắt trên có giá trị là 2.345.772 đồng.

Khoảng 18 giờ ngày 19/02/2024, tại đoạn đường bờ sông Đ giáp với Trường T2 thuộc phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Đào Văn K đã có hành vi lén lút trộm cắp 09 dây xích sắt (mỗi dây dài 4,37m) có tổng chiều dài là 39,33m, tổng trọng lượng 60kg của Công ty TNHH X. Tại thời điểm bị chiếm đoạt 09 dây xích sắt trên có giá trị là 3.518.658 đồng.

Tổng giá trị tài sản Khắc trộm cắp là 5.864.430 đồng; giá trị tài sản L trộm cắp là 2.345.772 đồng. Do đó có đủ căn cứ để xét xử bị cáo Đào Văn K, Nguyễn Bá L phạm tội "Trộm cắp tài sản " theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây lo lắng, hoang mang trong nhân dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể bị cáo K là người rủ bị cáo L đi trộm cắp và chuẩn bị các công cụ, phương tiện và cả hai cùng thực hiện hành vi trộm cắp nên K có vai trò cao hơn L.

Xét nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Bị cáo K là người có nhân thân xấu đã bị Toà án xét xử nhiều lần. Bị cáo L chưa bị phạt hành chính, xét xử lần nào.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo K thực hiện hai hành vi phạm tội và mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo L không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà ngày hôm nay cũng như tại Cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi của mình. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do đó bị cáo L được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đầu thú. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo K căn cứ nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đối với lần phạm tội này của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành người tốt.

Đối với bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên có đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho các bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng có thể giúp bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập riêng. Do đó, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH X, người đại diện theo ủy quyền của công ty là anh Đoàn Khắc Q xác nhận đã nhận đủ số tài sản mà các bị cáo đã trộm cắp và không yêu cầu gì về việc bồi thường. Chị Nguyễn Thi S1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền chị bỏ ra để mua dây xích sắt nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bao tải màu đỏ và 01 bao tải màu trắng là tài sản của gia đình chị Nguyễn Thị S. Ngày 20/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã trả lại cho chị S là phù hợp

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát (BKS) 99F1-500.75, quá trình điều tra xác định: Chị Đào Thị Ơ, sinh năm 1978, HKTT: Khu phố Á, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (chị gái của Đào Văn K) là chủ sở hữu xe mô tô trên. Khoảng đầu tháng 02/2024 chị Ơ cho K mượn xe mô tô trên để đi lại. Chị Ơ không biết K sử dụng xe mô tô để đi trộm cắp tài sản. Vì vậy, ngày 20/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã trả lại chiếc xe mô tô cho chị Ơ là phù hợp.

Đối với 09 dây xích sắt trong đó có 03 dây mỗi dây đều dài 4,37m và 06 dây ngắn (gồm 03 dây mỗi dây đều dài 1,92m và 03 dây mỗi dây đều dài 2,45m) có tổng chiều dài là 26,22m; có trọng lượng 42kg và 09 dây xích sắt (mỗi dây dài 4,37m) có tổng chiều dài là 39,33m, có trọng lượng 60kg là tài sản của Công ty TNHH X. Vì vậy, ngày 20/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã trả lại tài sản nêu trên cho Công ty TNHH X là phù hợp.

Đối 01 chiếc xà cầy bằng kim loại, dài khoảng 60cm, K sử dụng để làm công cụ cắt tháo dây xích sắt trộm cắp. Sau khi trộm cắp được tài sản, K đã vứt chiếc xà cầy khi đi trên đường QL38 nhưng không nhớ ở vị trí nào. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã tiến hành truy tìm nhưng chưa thu giữ được, khi nào thu giữ được sẽ xử lý sau là phù hợp.

Tình tiết liên quan trong vụ án:

Đối với chị Nguyễn Thị S là người mua các dây xích sắt của Đào Văn K và Nguyễn Bá L ngày 19/02/2024. Tuy nhiên, chị S không biết các dây xích sắt là do K và L trộm cắp được mà có. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không xem xét xử lý đối với chị S là phù hợp.

Đối với chị Đào Thị Ơ là người cho Đào Văn K mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 99F1-500.75. Tuy nhiên, chị Ơ không biết K sử dụng xe mô tô trên để đi trộm cắp tài sản. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không xem xét xử lý đối với chị Ơ là phù hợp.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Đào Văn K, Nguyễn Bá L phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự:
  3. Xử phạt bị cáo Đào Văn K 13 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/02/2024.

    Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

    Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá L 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo L bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

    Giao bị cáo Nguyễn Bá L cho UBND phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án
  5. Bị cáo Đào Văn K, Nguyễn Bá L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự
  7. Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND TX Thuận Thành;
  • - Chi cục THADS TX Thuận Thành;
  • - Công an TX Thuận Thành;
  • - Những NTGTT;
  • - Lưu án văn, hồ sơ

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Xuân Phong

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lê Bá Thành – Nguyễn Văn Đức

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Xuân Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: K và đồng bọn trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger