Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THÀNH

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày 17/6/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Bá Tấn

Bà Đồng Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nhật Thanh - Thư ký tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa:

Bà Lại Thị Hiền - chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Cao Đình V, tên gọi khác: không; sinh ngày 06 tháng 02 năm 1984 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm B, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Đình V1 và bà Lê Thị D; vợ là Hồ Thị T (đã chết) và có 02 con

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 14/12/2023, bị Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 399 ngày 14/12/2023 về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 2.500.000 đồng, Cao Đình V chưa chấp hành việc nộp phạt;

Nhân thân: +/ Tháng 3 năm 2000 bị Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng bị cáo bỏ trốn, không chấp hành;

+/ Ngày 17/12/2001, bị Tòa án nhân dân Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản tại bản án số 423/HSST ngày 17/12/2001. Chấp hành xong hình phạt ngày 24/3/2002, chấp hành xong tiền án phí trước năm 2008;

+/ Ngày 21/02/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng tại Quyết định số 03 ngày 21/02/2024. Cao Đình V bị tạm giữ để đưa đi cai nghiện bắt buộc kể từ ngày 18/01/2024 đến ngày 18/3/2024 thì bị tạm đình chỉ việc chấp hành theo quyết định số 44/QĐ-CSCN ngày 18/3/2024 của cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện Phúc Sơn tỉnh đoàn N.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/3/2024 đến ngày nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An.

Bị hại: Ông Phạm Xuân L – sinh năm 1954.

Nơi cư trú: Xóm H, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 02/01/2024, anh Nguyễn Quốc H, sinh năm 1992, trú tại xóm T, xã P, huyện Y rủ Cao Đình V (là bạn của H) đến nhà ông Phạm Xuân L, sinh năm 1954, trú tại xóm H, xã P, huyện Y chơi. Sau khi đến nơi thì ông L, anh H và V cùng ngồi uống rượu với nhau tại sân nhà ông L. Quá trình ngồi uống rượu, V hỏi vay tiền ông L thì ông L đồng ý đồng thời đi vào trong nhà mở tủ quần áo, lấy trong túi áo khoác màu nâu số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng), gồm 14 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) đưa ra sân hỏi V: “vay bao nhiêu?”, V trả lời: “vay hai triệu”. Ông L đưa cho V 04 (bốn) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), tổng số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) còn lại, ông L đưa vào nhà, để lại vị trí cũ trong túi áo khoác màu nâu. Quá trình ông L lấy tiền cho V vay thì V nhìn thấy vị trí ông L cất giấu tiền nên vào khoảng trưa ngày 06/01/2024, ông L gọi điện thoại cho H đến nhà uống rượu, H đồng ý. Khi H đến nhà, ông L nói H “gọi V đến trả tiền”. H gọi điện thoại cho V. Khoảng 15 phút sau, V đi đến nhà ông L. Ông L nói V trả tiền nhưng V chưa có tiền và xin trả sau thì ông L im lặng rồi cả ba cùng ngồi uống rượu. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, anh H đi về trước, ông L say rượu nên đi vào giường để ngủ. Lúc này, V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản (tiền) của ông L. V đi vào phía trong nhà thì thấy cửa tủ không khóa, V dùng tay mở cửa tủ, nhìn thấy chiếc áo khoác màu nâu mà ông L cất giấu tiền trước đó. V đưa tay vào trong một túi áo của chiếc áo khoác thì thấy một xấp tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) nên V đã lấy số tiền đó cất vào trong túi quần mình đang mặc rồi đi về nhà của V tại xóm B, xã P, huyện Y nằm ngủ. Đến sáng ngày 07/01/2024 V lấy tiền trộm cắp được của ông L ra đếm được 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng), bao gồm 14 (mười bốn) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Sau đó V sử dụng số tiền 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) để mua một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO, màu đen xanh tại cửa hàng mua bán điện thoại di động của anh Trần Văn T1, sinh năm 1990, trú tại xóm T, xã H, huyện Y. Số tiền còn lại, V đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 15/01/2024, ông Phạm Xuân L lấy tiền đi gửi ngâm hàng thì phát hiện bị mất số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) mà ông bỏ trong túi áp khoắc màu nâu trong tủ đựng quần áo bị mất trộm nên ngày 17/01/2024, ông L đã đến Công an xã P, huyện Y để trình báo.

Ngày 17/01/2024, do nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Cao Đình V đã đến Công an xã P, huyện Y để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 07/5/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An đã tiến hành đối chất giữa Cao Đình V và bị hại ông Phạm Xuân L để làm rõ số tiền Cao Đình V đã trộm cắp và số tiền ông Phạm Xuân L bị mất trộm. Tuy nhiên, không có căn cứ xác định Cao Đình V đã trộm cắp số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) của ông Phạm Xuân L mà chỉ xác định được Cao Đình V trộm cắp của ông Phạm Xuân L số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

  • - Ngày 17/01/2024, ông Phạm Xuân L đã giao nộp cho Công an xã P, huyện Y 01 (một) chiếc áo khoác màu nâu bên trong màu vàng, có 01 túi áo bên ngoài, 02 túi áo bên trong, chiếc áo trên đã qua sử dụng.
  • - Ngày 10/03/2024, ông Cao Đình V1 là bố của bị cáo Cao Đình V đã giao nộp cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh đen có số Imel 1: 864739044920351; số Imel 2: 846729044920344, máy đã qua sử dụng.

Các vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng công an huyện Y, tỉnh Nghệ An chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

* Về phần dân sự: bị hại ông Phạm X yêu cầu bị cáo Cao Đình V phải bồi thường cho ông số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) là số tiền ông bị mất. Hiện tại bị cáo chưa bồi thường được số tiền nào cho bị hại.

Cáo trạng số: 60/CT-VKS-HS ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, Nghệ An truy tố bị can Cao Đình V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý bị cáo như sau:

  • +/ Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Cao Đình V từ 12 -15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • +/ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  • +/ Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh đen có số Imel 1: 864739044920351; số Imel 2: 846729044920344. Trả lại cho chủ sở hữu là ông Phạm Xuân L 01 (một) chiếc áo khoác màu nâu bên trong màu vàng, có 01 túi áo bên ngoài, 02 túi áo bên trong.
  • +/ Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc Cao Đình V trả lại cho ông Phạm Xuân L 7.000.000 đồng

Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại đề nghị xét xử nghiêm minh đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Có cơ sở kết luận:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 06/01/2024, tại nhà ông Phạm Xuân L, sinh năm 1954, trú tại xóm H, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An, Cao Đình V đã trộm cắp của ông Phạm Xuân L số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) sau đó sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu riêng về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, hoang mang lo lắng bất bình trong nhân dân. Bị cáo là người có nhân thân rất xấu, đã từng bị tòa án xét xử về hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo đang có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì ham chơi đua đòi cần tiền tiêu xài cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

[3] Đánh giá nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: bị cáo có nhân thân rất xấu, đã từng bị xử lý hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” và là đối tượng nghiện ma túy bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trên cơ sở đánh giá nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ xét cần xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 12-15 tháng tù như đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) chiếc áo khoác màu nâu bên trong màu vàng, có 01 túi áo bên ngoài, 02 túi áo bên trong, chiếc áo trên đã qua sử dụng của ông Phạm Xuân L theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 cần trả lại cho chủ sở hữu là ông Phạm Xuân L.
  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh đen có số Imel 1: 864739044920351; số Imel 2: 846729044920344, máy đã qua sử dụng của Cao Đình V là tài sản do phạm tội mà có cần căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại ông Phạm Xuân L yêu cầu bị cáo Cao Đình V phải bồi thường cho ông số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) là số tiền ông bị mất. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình thẩm tra tại phiên tòa chỉ chứng minh được Cao Đình V đã trộm cắp 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Ngoài ra không có căn cứ nào khác để chứng minh Cao Đình V có hành vi trộm cắp số tiền 25.000.000 đồng nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Phạm Xuân L số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).

[7] Đối với anh Trần Văn T1 là người bán cho Cao Đình V chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh đen có số Imel 1: 864739044920351; số Imel 2: 846729044920344 với số tiền 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, anh T1 không biết nguồn gốc số tiền V mua điện thoại là do trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh Trần Văn T1 trong vụ án này.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đối với ông Phạm Xuân L lẽ ra phải chịu án phí về phần yêu cầu bồi thường không được chấp nhận tuy nhiên ông Phạm Xuân L là người cao tuổi có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 điều 12 nghị quyết 326/UBTVQH14 miễn án phí dân sự cho ông Phạm Xuân L theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Cao Đình V 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam: ngày 18/3/2024.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • */ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh đen có số Imel 1: 864739044920351; số Imel 2: 846729044920344
  • */ Trả lại cho chủ sở hữu là ông Phạm Xuân L 01 (một) chiếc áo khoác màu nâu bên trong màu vàng, có 01 túi áo bên ngoài, 02 túi áo bên trong.

(Vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án huyện Yên Thành quản lý theo phiếu nhập kho số NK 0072 ngày 4/6/2024)

- Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Cao Đình V phải bồi thường cho ông Phạm Xuân L số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Cao Đình V phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm

- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại có mặt đợc quyền kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • -VKSND H. Yên Thành
  • -TAND tỉnh Nghệ An
  • -THA DS H. Yên Thành
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại
  • - lưu HS vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Đình V phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger