Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 17-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Minh Nhì

Ông Võ Phước Cho

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Văn So N, sinh ngày 22 tháng 8 năm 1995 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp K, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Ngư phủ; trình độ văn hóa: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Võ Văn M và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án: Ngày 29/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện An Minh xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 34/2019/HS-ST; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 12/10/2023, tạm giữ ngày 12/10/2023, chuyển tạm giam ngày 20/10/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Trần Huỳnh N1, sinh năm 2003. Địa chỉ: ấp G, xã Đ, huyện A, Kiên Giang (vắng mặt);

+ Đoàn Văn D, sinh năm 1994. Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn T, huyện A, Kiên Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc phát hiện có một đối tượng nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy đang di chuyển từ tỉnh lộ 967 thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện A, Kiên Giang. Lúc 11 giờ 00 phút ngày 12/10/2023, Công an huyện A kết hợp Công an thị trấn T tiến hành chốt chặn, kiểm tra phát hiện bị can Võ Văn So N có để trong túi quần Jean bên phải 01 bịch nylon được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất, nghi là chất ma tuý nên tiến hành áp giải người cùng tang vật về Cơ quan Công an để điều tra làm rõ. Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ tang.

Tại Cơ quan điều tra Võ Văn So N khai nhận: Vào khoảng 06 giờ, sáng ngày 12/10/2023 bị can Võ Văn So N đi Bến Tre về đến đoạn Thị Trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì gọi điện thoại cho Dương Văn Đ (tên thường gọi là G), sinh 1984, hộ khẩu tại ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang để hỏi mua 1.500.000 đồng ma tuý “đá” để về sử dụng. Lúc này, Dương Văn Đ kêu So Ny về phòng trọ của Đ ở ấp G Chợ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang để lấy ma tuý. Khi đến cửa phòng trọ thì So N vào gõ cửa thì Đ ra mở cửa rồi ném 05 đoạn ống hút và 01 bịch nylon bên trong có chứa ma tuý ra ngoài cho bị can. Bị can So N cũng quăng 1.500.000 đồng vào phòng cho Đ để trả tiền mua ma tuý. Khi thực hiện giao dịch xong So N về nhà của Đoàn Văn D, sinh 1998 tại khu phố D, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang hỏi mượn chiếc xe máy nhãn hiệu ZX Wave, không có biển kiểm soát của Đoàn Văn D chạy qua nhà của Âu Hữu D1 (tên thường gọi là M1), sinh 1992, tại khu Phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Tại đây, So N đem ra một ít ma tuý vừa mua được đổ vào dụng cụ sử dụng ma tuý của D1 rồi cả hai cùng nhau sử dụng. Khi sử dụng ma tuý xong thì So N ra xe về thì bị bắt giữ.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tạm giữ số vật chứng gồm: 01 hộp nhựa trong suốt, bên trong có 05 đoạn ống hút được hàn kín hai đầu bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất nghi là chất ma tuý; 01 bịch nylon được hàn kín hai đầu bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất nghi là ma tuý; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, màu đỏ, đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam 570.000 đồng; 01 chiếc xe máy, nhãn hiệu ZX Wave, không biển kiểm soát, đã qua sử dụng, hư hỏng nhiều bộ phận;

Tại Bản kết luận giám định số: 1049/KL-KTHS ngày 18/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh K, kết luận: Nhiều hạt tinh thể màu trắng, không đồng

nhất chứa bên trong 05 (năm) đoạn ống hút và 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,0093 gam.

Đã trả lại cho bị can Võ Văn S Ny tiền Việt Nam: 570.000đ (Năm trăm bảy mươi ngàn đồng). Đã trả lại cho Trần Huỳnh N1: 01 (một) cây kéo bằng kim loại.

Đối với chiếc xe máy, nhãn hiệu ZX Wave, không biển kiểm soát, bị can Võ Văn So N khai mượn của Đoàn Văn D. D khai của một người bạn tên B ở chợ T2 thuộc huyện C, tỉnh Kiên Giang gửi nhưng qua xác minh không tìm được người tên B. Qua tra cứu chiếc xe trên là loại xe nhãn hiệu Fusin, mang biển kiểm soát 69F8-4058 do chị Phạm Như Q, sinh 1986 địa chỉ số A L, khóm G, phường F, thành phố C đứng tên chủ sở hữu nhưng đã bỏ địa phương không xác định được địa chỉ hiện tại. Nay đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, thông báo tìm kiếm chủ sở hữu và giải quyết theo quy định.

Tại Cáo trạng số 30/CT-VKS-AM ngày 21-3-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Võ Văn So Ny về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Võ Văn S Ny phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn S Ny từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đỏ, đã qua sử dụng và có nhiều vết xước ở mặt màn hình; Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong có ký hiệu vụ số: 1049/2023, (bên trong chứa 0,9598 gam Methamphetamine còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu); 01 (một) hộp nhựa trong suốt, đã qua sử dụng; 19 (mười chín) túi nylon có rãnh gài viền màu đỏ.

- Bị cáo trình bày: Bị cáo Võ Văn So N thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:

[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 12/10/2023, tại khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Công an phát hiện và bắt quả tang Võ Văn So N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, lập biên bản thu giữ vật chứng là 01 hộp nhựa bên trong có 05 đoạn ống hút được hàn kín hai đầu và 01 bịch nylon chứa nhiều tinh thể màu trắng, kết quả điều tra xác định số ma túy trên là do So N mua về để sử dụng. Theo Kết luận giám định chất ma túy mà So N tàng trữ là loại Methamphetamine, có khối lượng là 1,0093 gam.

[2.2] Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng đã tàng trữ trái phép là phạm tội với lỗi cố ý; mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo là để sử dụng, không nhằm để mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy; loại ma túy bị cáo tàng trữ là Methamphetamine có khối lượng 1,0093 gam. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Võ Văn So N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Ngày 29/11/2019 bị cáo Võ Văn S Ny bị Tòa án nhân dân huyện An Minh xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 34/2019/HS-ST, chưa được xóa án tích thì đến ngày 12/10/2023 lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác và bất bình trong nhân dân. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và những hệ lụy

của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người sử dụng, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo đã phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù, làm phức tạp thêm tình hình tệ nạn ma túy, gây bất ổn và gây dư luận không tốt ở địa phương nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Khi định mức hình phạt thấy bị cáo tái phạm nên cần xử phạt nghiêm khắc là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và để răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, HĐXX nhận thấy lẽ ra áp dụng hình phạt bổ sung để tăng tính răn đe. Tuy nhiên, nhận thấy bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định, phải thi hành hình phạt tù khó đảm bảo khả năng thi hành án nên không áp dụng đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng, đối với số ma túy và dụng cụ dùng để đựng ma túy là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy; chiếc điện thoại di động là công cụ bị cáo dùng để thực hiện tội phạm nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Về án phí, bị cáo So N chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Đối với Dương Văn Đ chưa có đủ căn cứ để chứng minh hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho bị cáo; Âu Hữu D1 đã bỏ đi khỏi địa phương, cơ quan cảnh sát điều tra chưa làm việc được nên chưa xử lý trong vụ án này là phù hợp. Đề nghị Viện kiểm sát, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn So N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

1.1- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn So N 02 (hai) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt theo biên bản bắt người phạm tội quả tang (ngày 12/10/2023).

1.2- Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng.

2- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đỏ, đã qua sử dụng và có nhiều vết xước ở mặt màn hình.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong có ký hiệu vụ số: 1049/2023, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh T1, người chứng kiến niêm phong Hồ Hoàng H và hình dấu tròn của Phòng K - Công an tỉnh K (bên trong chứa 0,9598 gam Methamphetamine còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu); 01 (một) hộp nhựa trong suốt, đã qua sử dụng; 19 (mười chín) túi nylon có rãnh gài viền màu đỏ.

(Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 13/QĐ-VKS-AM ngày 21-3-2024 của VKSND huyện).

3- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo So N chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17-5-2024)./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND X. Vân Khánh, AM, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn SN phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger