TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HS-ST
Ngày 17 – 4 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà: Thái Thị Hà Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà: Nguyễn Thị Nga
Ông: Lương Văn Thoại
Thư ký phiên tòa: Ông: Nguyễn Tiến Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện G
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Ánh Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/TLST-HS, ngày 01 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên Nguyễn Đức C, sinh năm 2001 tại Hà Nội; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã P, huyện G, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Minh L, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1980; Vợ, con: không có; Tiền sự, tiền sự: không có. Bị cáo bắt truy nã và tạm giữ ngày 02/02/2024 đến ngày 05/02/2024 chuyển tạm giam. Bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an thành phố H (có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1959; trú tại: thôn Đ, xã P, huyện G, thành phố Hà Nội.
(Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị X, sinh năm 1970; Đăng kí hộ khẩu thường trú: xóm A, thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi ở: thôn Đ, xã P, huyện G, thành phố Hà Nội.
(Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 02/6/2023, Nguyễn Đức C đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền. Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 02/06/2023, C đi bộ xung quanh thôn Đ, xã P với mục đích tìm xem ai có tài sản để sơ hở thì lấy trộm. Lúc này, C phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, BKS: 30N9-4613 của ông Nguyễn Văn Đ đang dựng ở trong ngõ, không khóa cổ, không khóa càng và không có người trông giữ nên C đã dắt chiếc xe máy trên mang về nhà. Sau khi mang xe về nhà, C tháo gương chiếu hậu và biển kiểm soát của xe vứt đi, không kiểm tra cốp xe vì không có chìa khóa rồi tiếp tục mang chiếc xe đến cửa hàng sửa chữa xe máy của anh Nguyễn Quý D; SN: 1985; trú tại: Thôn Đ, P để nhờ anh D đấu điện nổ máy xe. Anh D tháo mặt nạ phía trước đấu điện nhưng xe không nổ máy được nên lắp lại mặt nạ. Sau đó, C tiếp tục dắt chiếc xe mang đến cửa hàng sắt vụn của bà Phạm Thị X cùng thôn để bán sắt vụn. Chị X hỏi nguồn gốc chiếc xe trên thì C bảo xe của nhà bị hỏng không sử dụng được nữa nên muốn bán, không phải xe do trộm cắp. Bà X đồng ý mua chiếc xe trên với giá 500.000 đồng. Sau khi lấy trộm chiếc xe của ông Đ và bán lấy được tiền, C đã bỏ trốn khỏi địa phương.
Sau khi mua xe máy của C, bà X tháo các phụ kiện của xe để bán sắt vụn thì thấy trong cốp xe có căn cước công dân của ông Nguyễn Văn Đ. Ngày 03/06/2023, ông Đ đến trình báo công an xã P bị mất xe. Tối ngày 03/06/2023, bà Nguyễn Thị N (mẹ đẻ của C) sau khi nghe thông tin việc C lấy trộm chiếc xe máy của ông Đ đã đến gặp bà X để xin chuộc lại chiếc xe nhưng chiếc xe không còn do bà X đã tháo dỡ chiếc xe để bán sắt vụn cho người khác và không nhớ bán cho ai. Sáng ngày 04/06/2023, ông Đ cùng con gái là Nguyễn Thị Thúy D1 đến gặp bà X thì được bà X trả lại căn cước công dân và bồi thường số tiền 12.000.000 đồng. Số tiền này là do bà X và C thống nhất mỗi người bồi thường 6.000.000 đồng cho ông Đ nhưng chị X tự ứng ra bồi thường trước rồi C sẽ trả lại sau.
Do C đã trốn khỏi địa phương, ngày 25/10/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đã ra Quyết định truy nã số 09 đối với Nguyễn Đức C, đến ngày 02/02/2024, Nguyễn Đức C bị bắt.
Theo Kết luận định giá tài sản số 88/KL-HĐĐGTS ngày 20/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 30N9-4613 có gương chiếu hậu, ddax qua sử dụng mua từ năm 2011 có giá trị 5.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKSGL, ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Đức C về Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Đức C khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo trình bày, sau khi biết hành vi trộm cắp của
mình bị phát hiện, do không có tiền, bị cáo đã nhờ bà X ứng 12.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại, khi nào có tiền bị cáo sẽ trả lại cho bà X ½ là 6.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G trình bày luận tội, giữ nguyên nội dung Bản cáo trạng đã truy tố, trên cơ sở xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội Trộm cắp tài sản. Đề nghị xử phạt bị cáo C từ 9 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 02/02/2024.
Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bà X đã bồi thường cho bị hại thay bị cáo và không yêu cầu gì khác về dân sự nên đề nghị không xem xét giải quyết. Bà X đã có đơn đề nghị giải quyết sau khi bà có yêu cầu đối với C nên đề nghị HĐXX dành quyền khởi kiện cho bà X bằng vụ án dân sự khác.
Về xử lý vật chứng: không.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đến mức thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 02/6/2023, tại thôn Đ, xã P, G, Hà Nội, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, Nguyễn Đức C đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS 30N9-4613 của ông Nguyễn Văn Đ trị giá 05 triệu đồng. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Đức C phạm “Tội trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo Nguyễn Đức C là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
- Về hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội.
Tài sản bị cáo chiếm đoạt là chiếc xe máy Honda Wave có trị giá 5.000.000 đồng không lớn nhưng sau khi cơ quan Công an khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Nguyễn Đức C đã bỏ trốn khỏi địa phương, khiến quá trình điều tra gặp khó khăn, kéo dài, cơ quan Công an phải ra Quyết định truy nã đối với C, đến ngày 02/02/2024 mới bắt được C tại cửa khẩu quốc tế M. Vì vậy, cần phải có một mức án nghiêm khắc tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng xét, bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có 01 tình tiết giảm nhẹ là khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, lấy đó làm căn cứ giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo.
- Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện G đề nghị áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có thu nhập và nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Đối với bà Phạm Thị X do không biết chiếc xe máy mà bị cáo C đã bán cho là tài sản do C trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện G không có căn cứ để xử lý bà X về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là đúng quy định của pháp luật.
- Về trách nhiệm dân sự:
Do không thu hồi được tài sản là chiếc xe máy Honda Wave, trị giá 5.000.000 đồng nên bà Phạm Thị X và bị cáo C thỏa thuận miệng mỗi người bồi thường 6.000.000 đồng cho ông Đ nhưng chị X tự ứng ra bồi thường trước khi nào C có tiền sẽ trả lại sau: xét thấy số tiền bồi thường vượt quá giá trị của chiếc xe máy trên nhưng đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, ông Đ đã nhận 12.000.000 đồng, không còn yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng chấp nhận và xác nhận đã giải quyết xong. Tuy nhiên đến thời điểm xét xử, bị cáo C không thanh toán cũng như không tác động đến gia đình để trả cho chị X số tiền 6.000.000 đồng nên C không được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bà X đã có đơn đề nghị không giải quyết trong vụ án này và sẽ khởi kiện C bằng vụ án dân sự độc lập khác khi có yêu cầu.
Đối với số tiền 500.000 đồng bà X trả cho C khi mua xe, bà X không yêu cầu C phải thanh toán lại nên cần ghi nhận sự tự nguyện này của bà X.
- Đối với 01 USB nhãn hiệu Kingston màu bạc dung lượng 8Gb bên trong có lưu trữ 02 tệp video ghi lại hình ảnh C mang chiếc xe máy đến cửa hàng sửa chữa xe của anh Nguyễn Quý D để đấu điện nổ máy sáng ngày 02/6/2023 đang lưu trong hồ sợ vụ án, tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án làm chứng cứ của vụ án.
- Về xử lý vật chứng: không
- Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: bị cáo Nguyễn Đức C có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào các Điều: 331, 332, 333, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đức C phạm Tội trộm cắp tài sản.
Xử phạt: Nguyễn Đức C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 02/02/2024.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự.
Xác nhận ông Nguyễn Văn Đ đã nhận đủ số tiền bồi thường dân sự 12.000.000 đồng của bà Phạm Thị X, không còn yêu cầu nào khác và đã giải quyết xong. Dành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác cho bà Phạm Thị X về việc yêu cầu bị cáo Nguyễn Đức C thanh toán số tiền 6.000.000 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị X không yêu cầu bị cáo Nguyễn Đức C phải thanh toán trả số tiền 500.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Không
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Đức C có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo các vấn đề liên quan đến quyền nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hà Thu |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm: trộm cắp tài sản
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HSST Nguyễn Đức Chung
