Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày: 16/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Cường và ông Võ Trọng Thơi.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Trần Vũ Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế - số F Đ, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, đối với:

Bị cáo Nguyễn Văn Đ; tên gọi khác: Không; sinh ngày 12 tháng 12 năm 1996 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn C, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Thợ giày; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Trần Thị M; vợ, con: Chưa có; nhân thân: Còn nhỏ ở với gia đình, học văn hoá đến lớp 9 thì nghỉ học, ở nhà phụ giúp gia đình. Sau đó, làm nghề thợ giày tại địa phương cho đến ngày phạm tội.

Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

- Bị hại:

  • + Ông Phan Văn T, sinh năm 1954 là Tộc trưởng Họ Phan làng C1; địa chỉ: Thôn C, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
  • + Ông Phan Văn K, sinh năm 1962 là T1 nhánh 2 Họ Phan làng C; địa chỉ: Thôn C, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
  • + Ông Phan Văn D, sinh năm 1964 là T1 nhánh 1 Họ Phan làng C; địa chỉ: Thôn C, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn K và ông Phan Văn D: Ông Phan Văn T, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn C, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Anh Lương Quang T2, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn C, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
  • + Chị Trần Thị H, sinh năm 1988; địa chỉ: Số H đường D, Tổ E, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn C, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
  • + Bà Trần Thị M, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn C, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 23/3/2024, Nguyễn Văn Đ đi bộ qua thờ họ Phan, ở thôn C, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế thì phát hiện cửa nhà thờ phía bên trái không khóa và không có người trông coi. Đ nhìn vào bên trong thấy có nhiều lư đồng, đèn đồng, dùng để thờ cúng nên nảy sịnh ý định lấy trộm. Đ đi vào trong nhà thờ lấy trộm 02 lư đồng và 03 cặp đèn thờ đồng (06 đèn), rồi đem ra cất giấu ở khu vực mộ hoang cách nhà thờ họ Phan 100 mét rồi về nhà đi ngủ.

Đến khoảng 10 giờ ngày 24/3/2024, Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75G1 - 481.22 (xe của anh Lương Quang T2, sinh năm 1996, trú cùng thôn), chở số lư đồng và đèn đồng nói trên đến bán cho chị Trần Thị H, sinh năm 1988, trú tại A D, phường T, thị xã H, lấy số tiền 2.280.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nói trên.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển kiểm soát 75G1 - 481.22, cùng chìa khoá xe; 01 lư bằng đồng (đủ bộ) nặng 9,6 kg; 01 lư bằng đồng (thiếu đế lư) nặng 4,9kg; 01 cặp đèn thờ bằng đồng, có đường kính đế 18cm, đĩa đèn đường kính 25cm, chiều cao mỗi cây 45cm; 01 cặp đèn thờ bằng đồng, có đường kính đế 16cm, đĩa đèn đường kính 22cm, chiều cao mỗi cây 40cm; 01 cặp đèn thờ bằng đồng, có đường kính đế 17,5cm, đĩa đèn đường kính 21cm, chiều cao mỗi cây 37cm.

Hiện xe mô tô, cùng chìa khoá xe và 02 lư đồng, 06 đèn đồng nói trên, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 34/KL-HĐĐGTS ngày 24/4/2024, của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân thị xã H, kết luận: 01 lư bằng đồng (đủ bộ) nặng 9,6 kg, có trị giá 960.000 đồng; 01 lư bằng đồng (thiếu đế lư) nặng 4,9kg có trị giá 490.000 đồng; 01 cặp đèn thờ bằng đồng, có đường kính đế 18cm, đĩa đèn đường kính 25cm, chiều cao mỗi cây 45cm có trị giá 420.000 đồng; 01 cặp đèn thờ bằng đồng, có đường kính đế 16cm, đĩa đèn đường kính 22cm, chiều cao mỗi cây 40cm, có trị giá 290.000 đồng; 01 cặp đèn thờ bằng đồng, có đường kính đế 17,5cm, đĩa đèn đường kính 21cm, chiều cao mỗi cây 37cm, có trị giá 290.000 đồng;

Tổng giá trị định giá là 2.450.000 đồng (Hai triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng chẵn).

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện của nhà thờ H1 là ông Phan Văn T, đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về dân sự. Bị cáo đã bồi thường cho chị Trần Thị H số tiền 2.280.000 đồng, chị H không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKSHTh ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Đ từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố; tỏ ra ăn năn, hối hận về hành vi đã gây ra. Bị cáo, bị hại xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Đã có cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ ngày 23/3/2024, tại thôn C, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà thờ họ Phan thôn C, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế để lấy trộm các tài sản gồm: 02 lư đồng và 06 đèn đồng (03 cặp), có tổng giá trị là 2.450.000 đồng (Hai triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng chẵn). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo theo bản cáo trạng số 44/CT-VKSHTh ngày 17/7/2024 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Đ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì lòng tham nên bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Bị cáo Nguyễn Văn Đ có nhân thân tốt. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, tài sản đã được trả lại cho chủ sở hữu; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ vào đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Nguyễn Văn Đ có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, lần đầu phạm tội, phạm tội mang tính chất ít nghiêm trọng, bị cáo có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo được nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng răn đe, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đ không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bị cáo đã bồi thường cho chị Trần Thị H số tiền 2.280.000 đồng, chị H không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp, không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời gian chấp hành hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Đ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế nhận được bản án có hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành án của Toà án. Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế ;
  • - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan THAHS Công an thị xã Hương Thủy;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - UBND xã Thủy Tân, thị xã Hương Thủy;
  • - Bị cáo; bị hại; NCQLNVLQ;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn Đ; tên gọi khác: Không; sinh ngày 12 tháng 12 năm 1996 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn C, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger