Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀNG ĐỊNH

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 16 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bẩy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Hà.

Ông Hướng Duy Tùng.

Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn

tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trọng Hinh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST - HS ngày 17 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với các bị cáo:

1. Ma Thái D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01 tháng 8 năm 1995, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 06/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ma Văn B (đã chết) và bà Chu Thị I; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Ngày 04/11/2021 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy, chưa thi hành; nhân thân: Ngày 14/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Thái D với thời hạn 24 tháng; Ngày 30/6/2020 bị Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức Cảnh cáo; Ngày 22/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Thái D với thời hạn 20 tháng; bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 15/3/2024 cho đến nay, có mặt.

2. Hoàng Thế V, tên gọi khác: Không, sinh ngày 22 tháng 5 năm 1998, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 11/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Ủ và bà Đàm Thị D1; có vợ là Hứa Thị Phương L và 01 con sinh năm 2018; tiền án: Tại Bản án số 12/2023/HS-ST ngày 11/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định xử phạt Hoàng Thế V 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/9/2023 và đến ngày 15/03/2024 tiếp tục phạm tội đến nay chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/12/2017 bị Công an huyện T ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Cố ý gây thương tích, mức phạt 1.000.000 đồng; bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 15/3/2024 cho đến nay, có mặt.

- Những người làm chứng:

  1. Anh Đinh Đức T, sinh năm 1991, vắng mặt.
  2. Anh Nông Văn T1, sinh năm 1996, có mặt.
  3. Anh Lý Văn H, sinh năm 1991, vắng mặt.
  4. Anh Hoàng A, sinh năm 1996, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 30 phút ngày 15/3/2024, Công an huyện T phát hiện Hoàng Thế V có biểu hiện nghi vấn, tiến hành kiểm tra thì V bỏ chạy vào nhà và thừa nhận đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong nhà chuẩn bị mang đi bán nên đã tự nguyện lấy trong ngăn tủ trong phòng ngủ ra 01 gói chất bột màu trắng được gói bằng 02 lớp túi ni lon trong suốt. Tổ công tác đã đưa Hoàng Thế V cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an huyện T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật, tạm giữ đồ vật, tài liệu gồm: 01 gói chất bột màu trắng được gói bằng hai lớp túi nilon trong suốt nghi là ma túy heroin; số tiền 550.000 đồng; ngoài ra, thu giữ 02 điện thoại và nhiều vật chứng khác. Gói chất bột màu trắng, số tiif2222222222222iến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Thế V thu giữ 01 kéo kim loại màu đen, 01 vỏ bao xi lanh sử dụng một lần bị cắt xén; 02 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng và một số vật chứng khác.

Căn cứ lời khai của Hoàng Thế V, ngày 15/03/2024 Công an huyện T ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và ngày 17/03/2024 tiến hành xác định hiện trường chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Ma Thái D, kết quả thu giữ 03 xi lanh đã qua sử dụng; 01 kéo dài 19 cm cán màu xanh; 05 mảnh giấy trắng kẻ ngang, 01 tập giấy trắng kẻ ngang.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Thế V và Ma Thái D khai nhận trong hai ngày 03/3/2024 và ngày 05/3/2024, V một mình đi xe khách xuống thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn mua mỗi lần 01 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng với một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ, sau đó đem ma túy về nhà của Ma Thái D cùng nhau chia nhỏ ma túy để bán cho các đối tượng nghiện ma túy kiếm lời. Cụ thể:

Lần 1, ngày 03/3/2024, Hoàng Thế V mua 01 gói ma túy giá 1.000.000 đồng và cùng Dương chia được 10 gói và V trả công cho D 01 gói ma túy để D tự sử dụng tại bếp nhà của mình và V cũng tự lấy kim tiêm đem theo sử dụng 01 gói tại bếp nhà D (việc sử dụng ma túy của V được sự đồng ý của D). Đến khoảng 14 giờ ngày 04/03/2024, V đã bán cho Đinh Đức T 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng và D cho T xuống bếp nhà D sử dụng. Sau đó, khoảng 15 phút sau thì có Nông Văn T1 đến nhà D mua 01 gói ma túy giá 200.000 đồng và D đồng ý để T1 xuống bếp sử dụng. Số ma túy còn lại 06 gói, V đem về nhà cất và một mình tự sử dụng hết.

Lần 2, ngày 05/3/2024, Hoàng Thế V mua 01 gói ma túy giá 1.000.000 và cùng D chia ma túy thành 10 gói nhỏ. V trả công cho D 01 gói ma túy (D đã tự sử dụng hết) và D đồng ý cho V tự sử dụng ma túy tại bếp nhà D. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, D bán cho Lý Văn H 01 gói ma túy giá 200.000 đồng và D để cho H sử dụng ma túy ngay tại bếp của D. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, V cũng bán cho Hoàng A 01 gói ma túy giá 200.000 đồng và D đồng ý cho Hoàng A sử dụng tại bếp nhà D. Số ma túy còn lại 06 gói, V mang về nhà cất và tự sử dụng hết.

Lần 3, vào khoảng 18 giờ ngày 14/3/2024, Hoàng Thế Vinh V mua 01 gói ma túy giá 1.000.000 đồng. Đến 09 giờ 30 phút ngày 15/3/2024, khi V đang định mang ma túy cất trong tủ đi chia thành nhiều gói nhỏ để bán thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang.

Tại kết luận giám định số 403/KL-KTHS, ngày 17/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Chất bột màu trắng được gói bằng 02 lớp túi nilon là tang vật nghi ma túy thu giữ của Hoàng Thế V gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 1,221 gam (đã trừ bì).

Tại kết luận giám định số 415/KL-KTHS, ngày 22/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Số tiền 550.000 đồng thu giữ của Hoàng Thế V gửi giám định đều là tiền thật.

Tại bản Cáo trạng số 46/CT-VKSTĐ ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Ma Thái D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” tại điểm b khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự; bị cáo Hoàng Thế V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Công bố lời khai của người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đều thừa nhận mua ma túy và trả tiền cho bị cáo Ma Thái D. Lời khai của người làm chứng Nông Văn T1 tại phiên tòa thừa nhận quen biết và mua với bị cáo D, được D cho sử dụng tại bếp nhà bị cáo D.

Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ma Thái D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng các điểm b khoản 2 Điều 251, điểm b khoản 2 Điều 256, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ma Thái D từ 07 năm đến 7 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 7 năm đến 7 năm 06 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp chung cả hai hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành là 14 đến 15 năm tù; Đề nghị tuyên bố bị cáo Hoàng Thế V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 7 năm 06 tháng đến 8 năm tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo; về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy đã bị thu giữ, vật chứng không có giá trị sử dụng, trả cho các bị cáo tài sản không dùng vào việc phạm tội; ngoài ra, cần áp dụng biện pháp tư pháp tịch số tiền bị cáo phạm tội mà có và các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Phần tranh luận: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, các bị cáo xin được mức án nhẹ để sớm được trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện T trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt người làm chứng. Xét thấy việc vắng mặt người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử.

[3] Về lời khai nhận thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản thu giữ đồ vật, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở khẳng định, trong các ngày 03/3/2024 và 05/3/2024, Hoàng Thế V 02 lần mua ma túy đến nhà của Ma Thái D để cùng nhau chia thành nhiều gói nhỏ, mỗi lần chia xong V đều trả công cho D 01 gói ma túy. Tại nhà của D, Hoàng Thế V đã bán ma túy 04 lần, mỗi lần 01 gói với giá 200.000 đồng cho các đối tượng nghiện. Khi mua được ma túy, được sự đồng ý của Ma Thái D, các đối tượng nghiện và bản thân Hoàng Thế V đều sử dụng ma túy ngay tại bếp trong nhà của Ma Thái D. Hành vi của bị cáo Ma Thái D đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội “Chứa chấp việc sử dụng phép chất ma túy”, hành vi của Hoàng Thế V đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 251, khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa, ý kiến của các bị cáo và để có mức án phù hợp với hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức và thực hiện hành vi rất nghiêm trọng với lỗi cố ý, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, do đó phải bị tuyên là có tội và chịu hình phạt. Ngoài ra, để phân hóa và cá thể hóa hình phạt, Hội đồng xét xử đánh giá vai trò của mỗi bị cáo trong vụ án, các tình tiết về nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng:

[5] Bị cáo Hoàng Thế V là người khởi sướng, có vai trò chính, là người bỏ tiền và trực tiếp đi mua ma túy về để sử dụng và bán lại kiếm lời. Hoàng Thế V đã thông qua việc cho Ma Thái D sử dụng ma túy lấy công để bán ma túy cho Hoàng Thế V. Do đó, bị cáo Ma Thái D là người giúp sức tích cực cho bị cáo Hoàng Thế V. Ngoài ra, bị cáo Ma Thái D ngoài giúp sức bán ma túy cho bị cáo Hoàng Thế V, Ma Thái D còn cho phép Hoàng Thế V và các đối tượng nghiện khác sử dụng trái phép ma túy ngay trong nhà bếp thuộc quyền quản lý, sử dụng của D. Do đó, D phải chịu trách nhiệm độc lập về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Về nhân thân, các bị cáo đều là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu đã xác minh. Trong đó, ngày 04/11/2021 bị cáo Ma Thái D bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng chưa thi hành xong. Đối với bị cáo Hoàng Thế V, ngày 28/12/2017 bị Công an huyện T ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Cố ý gây thương tích, mức phạt 1.000.000 đồng;

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hôi cải được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng, ngoài tình tiết tăng nặng định khung, bị cáo Ma Thái D không có tình tiết tăng nặng nào khác, đối với bị cáo Hoàng Thế V, ngoài tình tiết tăng nặng định khung, bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, theo đó: Tại Bản án số 12/2023/HS-ST ngày 11/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định xử phạt Hoàng Thế V 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/9/2023 và đến ngày 15/03/2024 tiếp tục phạm tội, đến nay chưa được xóa án tích. Do đó, lần phạm tội này được xác định là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở đánh giá này, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với hành vi, vai trò các bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới đủ tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Qua kết quả xác minh các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, bản thân nghiện ma túy, vì vậy Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, vật chứng không có giá trị sử dụng; trả lại cho bị cáo tài sản là điện thoại không dùng vào việc phạm tội; tịch thu số tiền của bị cáo do phạm tội mà có.

[9] Cần áp dụng biện pháp tư pháp truy thu số tiền 250.000 đồng do phạm tội mà có từ bị cáo Hoàng Thế V sung ngân sách Nhà nước.

[10] Đối với người đàn ông đã bán ma túy H1 tại khu vực thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, nhưng không rõ địa chỉ, tên tuổi nên không đủ căn cứ xác minh làm rõ. Đối với Hoàng A, Lý Văn H, Nông Văn T1 được mua ma túy Heroin với Hoàng Thế V và đã sử dụng hết tại nhà của Ma Thái D. Xét thấy hành vi của các đối tượng chưa đến mức xử lý về hình sự nên Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng trên bằng hình thức Cảnh cáo là có căn cứ. Đối với Đinh Đức T, căn cứ lời khai của Ma Thái D và Hoàng Thế V được mua ma túy với V và sử dụng ma túy ngay tại nhà của D. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã triệu tập T nhiều lần và tiến hành xác minh tại nơi cư trú của T nhưng không rõ T đi đâu và làm gì nên chưa có cơ sở xem xét giải quyết.

[11] Các bị cáo là người bị kết án thì phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[12] Xét đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết toàn bộ vụ án phù hợp với nhận xét của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 256; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ma Thái D;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Thế V;

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh:

1.1. Tuyên bố bị cáo Ma Thái D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

1.2. Tuyên bố bị cáo Hoàng Thế V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Ma Thái D 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024.

2.2. Xử phạt bị cáo Hoàng Thế V 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ma túy, bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 1,149 gam Heroin và các vỏ bao gói (cũ); 02 (hai) mảnh giấy cắt từ tờ lịch diện 08x08cm; 02 (hai) mảnh giấy diện 02x02cm; 01 (một) mảnh nilon màu đen diện 10x35cm; 01 (một) mảnh giấy trắng diện 18x02cm; 01 (một) kéo kim loại dài 20cm; 01 (một) vỏ bao xi lanh sử dụng một lần bị cắt xén; 02 (hai) bơm kim tiêm; 03 (ba) xi lanh đã qua sử dụng; 01 (một) kéo dài 19cm cán màu xanh; 05 (năm) mảnh giấy trắng kẻ ngang; 01 (một) tập giấy trắng kẻ ngang.

3.2. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 550.000 đồng thu giữ của Hoàng Thế V.

3.3 Trả lại cho bị cáo Hoàng Thế V: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme màu đen số IMEI 864751066795439/63 lắp sim số thuê bao 0376.188.148 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh dương số IMEI 861599041272997 không lắp sim.

(Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Công an huyện T).

4. Áp dụng biện pháp tư pháp: Tịch thu số tiền 800.000 (tám trăm nghìn) đồng của bị cáo Hoàng Thế V, đã thu giữ 550.000 đồng, còn tịch thu (truy thu) tiếp là 250.000 đồng.

5. Về án phí: Buộc các bị cáo Ma Thái D, Hoàng Thế V mỗi người phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Ma Thái D, Hoàng Thế V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Tràng Định;
  • - Công an huyện Tràng Định;
  • - Chi cục THADS huyện Tràng Định;
  • - Người làm chứng;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Bẩy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn về mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ma Thai D - Hoang The V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger