Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HIỆP HÒA

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-8-2024

V/v: “Tranh chấp về ly hôn,

tranh chấp về nuôi con chung.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Xuân Trường
  2. Bà Hoàng Thị Kim Oanh

Thư ký phiên toà: ông Thân Văn Đông -Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thùy -Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 99/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXX ST- HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1973 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1973(có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 16/5/2024 và các bản ghi lời khai chị Nguyễn Thị S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn năm 1993, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H (giấy đăng ký kết hôn hiện nay đã bị mất không còn lưu giữ được do vậy không cung cấp cho Toà án được). Chị có đến UBND xã Thường Thắng xin xác nhận nhưng đại diện UBND xã T xác nhận sổ đăng ký kết hôn năm 1993 UBND xã Thường

Thắng không lưu giữ được nên xác không xác định được việc chị và anh H có đăng ký kết hôn hay không. Sau khi kết hôn chị về gia đình anh H làm dâu, tình cảm vợ chồng ban đầu chung sống hạnh phúc. Đến tháng 04/2024 thì vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, nghi ngờ nhau trong quan hệ tình cảm, vợ chồng sống ly thân từ tháng 04/2024 đến nay không quan tâm gì tới nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt chị đề nghị xin ly hôn anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: vợ chồng chị có 04 con chung là Nguyễn Thị N, sinh ngày15/01/1995; Nguyễn Thị Kim Y, sinh ngày 19/10/2000; Nguyễn Thị Huyền O, sinh ngày 26/01/2006 và Nguyễn Hải Q, sinh ngày 30/11/2008. Cháu N, cháu Y, cháu O đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết. Cháu Q hiện nay đang ở với chị và anh H. Ly hôn chị và anh H đều thống nhất để anh H tiếp tục nuôi cháu Q, anh H không yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi con, chị đồng ý.

Về tài sản chung, công sức, công nợ, ruộng đất và các quan hệ khác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị S có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân:

Anh và chị S kết hôn năm 1993, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H (giấy đăng ký kết hôn hiện nay đã bị mất không còn lưu giữ được do vậy anh không cung cấp cho Toà án được). Sau khi kết hôn chị S về gia đình anh làm dâu ngay, tình cảm vợ chồng ban đầu chung sống hạnh phúc. Đến tháng 04/2024 thì vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, nghi ngờ nhau trong quan hệ tình cảm, vợ chồng sống ly thân từ tháng 04/2024 đến nay không quan tâm gì tới nhau nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt chị S đề nghị xin ly hôn anh đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung như chị S trình bày là đúng. Ly hôn anh và chị S thỏa thuận để anh tiếp tục nuôi con chung là cháu Q và anh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công sức, công nợ, ruộng đất và các quan hệ khác: Anh không có yêu cầu giải quyết về tài sản, công sức, ông nợ và các vấn đề khác. Anh H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định pháp luật.

Về ý kiến giải quyết vụ án:

Căn cứ vào Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; các Điều 144; Điều 147; Điều 235; Điều 266; Điều 231 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 14, Điều 15; khoản 2 Điều 53; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn H tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hải Q, sinh ngày 30/11/2008. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết. Chị S có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản chở chị thực hiện quyền này.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự được biết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Xét đơn khởi kiện và yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị S xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sựAnh Hồng có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang theo quy định khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2].Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Văn H kết hôn năm 1993. Theo lời trình bày chị S và anh H là có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H nhưng không ai còn lưu giữ được giấy chứng nhận kết hôn. Đại diện UBND xã T xác định hiện tại xã không còn lưu sổ đăng ký kết hôn năm 1993 nên không có căn cứ xác định được anh H và chị S có đăng ký kết hôn nên xác định chị S và anh H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1993 đến nay. Sau khi kết hôn chị về gia đình anh H làm dâu, tình cảm vợ chồng ban đầu chung sống hạnh phúc. Đến tháng 04/2024 thì vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, nghi ngờ nhau trong quan hệ tình cảm, vợ chồng sống ly thân từ tháng 04/2024 đến nay không quan tâm gì tới nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không

đạt được. Nay chị S đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Anh H đồng ý với yêu cầu của chị S. Do chị S và anh H không có đăng ký kết hôn nhưng anh chị sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1993 đến nay nên cần áp dụng Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị S và anh H.

[3] Về con chung: Chị S và anh H có 04 con chung là Nguyễn Thị N, sinh ngày15/01/1995; Nguyễn Thị Kim Y, sinh ngày 19/10/2000; Nguyễn Thị Huyền O, sinh ngày 26/01/2006 và Nguyễn Hải Q, sinh ngày 30/11/2008. Con chung N, Y, O đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết. Con chung Q hiện nay đang ở với chị S và anh H. Chị S và anh H đều thống nhất để anh H tiếp tục nuôi con chung là Nguyễn Hải Q, anh H không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con, chị S đồng ý, con chung Q có nguyện vọng ở với bố. Cần chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự giao con chung Nguyễn Hải Q cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng và chị S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí: Chị S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; các Điều 144; Điều 147; Điều 235; Điều 266; Điều 231 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 14, Điều 15; khoản 2 Điều 53; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn H tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hải Q, sinh ngày 30/11/2008. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết. Chị S có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản chở chị thực hiện quyền này.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000398 ngày 17/5/2024. Xác nhận chị S đã nộp đủ án phí.

Báo cho đương sự vắng mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản tổng đạt án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát ND H.Hiệp Hòa;
  • - Chi cục THA DS H. Hiệp Hòa;
  • - Ủy ban nhân dân xã Thường Thắng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Đào Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung

  • Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger