Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 45/2024/DS-ST

Ngày: 16/7/2024

“V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Hổ Bình

- Bà Phan Thị Nga

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án quận Hoàn Kiếm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 61/2024/TLST-DS ngày 28/03/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” - theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (viết tắt là P);

địa chỉ: B N, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L - Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mai Xuân T - Giám đốc Khối quản lý và tái cấu trúc tài sản

(Theo Giấy ủy quyền số 10771/UQ-PVB ngày 10/6/2020)

Ông T ủy quyền tham gia tố tụng cho: Ông Nguyễn Chính H, ông Phạm Đức A, ông Trần Hoàng Q - Chuyên viên tố tụng khách hàng cá nhân (Theo giấy ủy quyền số 23377/UQ - PVB ngày 23/10/2023)

(Ông Đức A có mặt).

* Bị đơn: Bà Bùi Thị L1, sinh năm 1987

Hộ khẩu thường trú: A T, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 08/03/2024, và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 09/01/2019, Ngân hàng TMCP Đ Chi nhánh H3 (P) với bà Bùi Thị L1 - CCCD số [...] do Cục trưởng cục Cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp ngày 23/8/2017, đã ký kết Hợp đồng cho vay số 0901/2019/HĐTD/PVB-HVT, với nội dung cơ bản như sau:

  • - Số tiền vay: 2.000.000.000 VNĐ (Hai tỷ đồng);
  • - Thời hạn cho vay: 240 tháng kể từ ngày nhận nợ lần đầu tiên;
  • - Mục đích sử dụng số tiền vay: Hoàn vốn mua bất động sản;
  • - Lãi suất:
    • + Lãi suất trong hạn: Lãi suất áp dụng tại thời điểm giải ngân được ghi nhận tại mỗi Khế ước nhận nợ.
    • + Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng tại ngày đến hạn đối với số dư nợ gốc đến hạn nhưng không được bên vay trả nợ đúng hạn.
    • + Lãi suất chậm trả lãi: Theo quy định của Ngân hàng nhưng không vượt quá 10%/năm.
  • - Ngày giải ngân: 11/01/2019;
  • - Tài sản bảo đảm cho khoản vay:

Căn cứ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 00267.2019/HĐTC; quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/01/2019 tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 007765, số vào số cấp GCN: CS-ST.07660 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 12/4/2018 cho ông Bùi Văn D và Bà Nguyễn Thị A1. Ngày 07/01/2019 Văn phòng Đ1 - Chi nhánh thị xã S xác nhận chuyển nhượng cho Bà Bùi Thị L1 theo hồ sơ số TST.000003.CN.VP, cụ thể như sau:

  • - Thửa đất số: 17; Tờ bản đồ số: 16
  • - Địa chỉ thửa đất: Khu vực G, xóm C, phường T, thị xã S, Thành phố Hà Nội.
  • - Diện tích: 115 m² (Một trăm mười lăm mét vuông)
  • - Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng.
  • - Mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị.
  • - Thời hạn sử dụng: Lâu dài
  • - Nguồn gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất.

Toàn bộ các tài sản gắn liền với đất đã, đang hoặc sẽ hình thành, phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích đất đã thế chấp; Toàn bộ các quyền, lợi ích phát sinh từ quyền sử dụng đất (bao gồm nhưng không giới hạn ở hoa lợi, lợi tức, quyền nhận tiền đền bù, tiền bồi thường...) cũng đều thuộc tài sản thế chấp.

Tài sản bảo đảm đã được đăng ký thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 00267.2019/HĐTC; Quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/01/2019 tại Văn phòng C, thành phố Hà Nội.

Ngày 11/01/2019, Ngân hàng P đã thực hiện giải ngân cho Bà Bùi Thị L1 số tiền 2.000.000.000 VNĐ (Hai tỷ đồng) theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Trong quá trình thực hiện theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, bà Bùi Thị L1 đã thực hiện được một phần nghĩa vụ trả nợ cho P với tổng số tiền là 107.528.444 VNĐ, trong đó: Nợ gốc đã trả là 41.747.669 đồng; nợ lãi đã trả là 65.780.775 VNĐ.

Từ ngày 25/5/2019 cho đến nay bà Bùi Thị L1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, từ ngày 25/5/2019 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản vay của bà L1 sang nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ tại P, với tổng dư nợ gốc tại thời điểm quá hạn là 1.958.252.331 VNĐ.

Từ ngày 25/5/2019 bà L1 đã không thanh toán gốc, lãi cho Ngân hàng P. P đã nhiều lần làm việc và gửi Công văn thông báo nợ, thông báo xử lý tài sản bảo đảm đến bà L1 để yêu cầu bà Lương thực h nghĩa vụ trả nợ đối với P nhưng bà L1 không thực hiện.

Tạm tính đến hết ngày 04/6/2024, số tiền bà Bùi Thị L1 còn nợ P theo Hợp đồng tín dụng số tiền là 3.501.965.444 đồng (Ba tỷ, năm trăm linh một triệu, chín trăm sáu mươi lăm nghìn, bốn trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó: Nợ gốc là 1.958.252.331 đồng; lãi trong hạn là 1.059.786.383 đồng; lãi quá hạn là 228.266.718 đồng; lãi chậm trả lãi là 255.660.012 đồng.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của P, P đã khởi kiện bà Bùi Thị L1 đến Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, đề nghị Tòa án giải quyết các nội dung sau:

  1. Buộc bà Bùi Thị L1 phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho P tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến hết ngày 04/6/2024 là 3.501.965.444 đồng (Ba tỷ, năm trăm linh một, chín trăm sáu mươi lăm nghìn, bốn trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó:
    • + Nợ gốc là 1.958.252.331 đồng;
    • + Lãi trong hạn là 1.059.786.383 đồng;
    • + Lãi quá hạn là 228.266.718 đồng;
    • + Lãi chậm trả lãi là 255.660.012 đồng;
  2. Buộc bà Bùi Thị L1 phải trả cho P các khoản nợ lãi và phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 05/6/2024 cho đến khi tất toán khoản vay;
  3. Trong trường hợp bà Bùi Thị L1 không thanh toán được ngay toàn bộ nghĩa vụ nợ, thì P có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 007765, số vào số cấp GCN: CS-ST 07660 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 12/4/2018 cho ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị A1, chuyển nhượng cho bà Bùi Thị L1 theo hồ sơ số TST.000003.CN ngày 07/01/2019 tại Văn phòng Đ1 - Chi nhánh thị xã S - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 00267.2019/HĐTC; Quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/01/2019 tại Văn phòng C, Thành phố Hà Nội;
  4. Nếu số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán cho toàn bộ nghĩa vụ nợ của bà Bùi Thị L1 tại P, thì P có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản khác và nguồn thu hợp pháp của bà Bùi Thị L1 để thanh toán hết toàn bộ nghĩa vụ nợ của bà Bùi Thị L1 tại P.

Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.

* Bị đơn - bà Bùi Thị L1:

đã được Tòa án tổng hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng để bà L1 biết những vấn đề cụ thể mà Ngân hàng P yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng thời triệu tập bà L1 đến Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn. Tuy nhiên, bà L1 không có mặt theo thông báo triệu tập của Tòa án để viết bản tự khai, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của Ngân hàng, không cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ, không chứng minh để tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, không đưa ra yêu cầu phản tố, không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa. Do bà L1 không thực hiện nghĩa vụ của đương sự nên phải chịu hậu quả theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà Ngân hàng giao nộp và do Tòa án thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết những yêu cầu sau:

  1. Buộc bị đơn bà Bùi Thị L1 phải trả số tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ đã ký, tạm tính đến hết ngày 15/7/2024 là 3.546.843.759 đồng (Ba tỷ, năm trăm bốn mươi sáu triệu, tám trăm bốn mươi ba nghìn, bảy trăm năm mươi chín đồng), trong đó:
    • - Nợ gốc là 1.958.252.331 đồng;
    • + Lãi trong hạn là 1.081.835.720 đồng;
    • + Lãi quá hạn là 239.359.856 đồng;
    • + Lãi chậm trả lãi là 267.395.852 đồng;
  2. Buộc bà Bùi Thị L1 phải trả cho P các khoản nợ lãi và phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký, kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 16/7/2024 cho đến bà L1 trả hết khoản nợ cho P.
  3. Trong trường hợp bà Bùi Thị L1 không thanh toán được ngay toàn bộ nghĩa vụ nợ, thì P có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 007765, số vào số cấp GCN: CS-ST 07660 do Sở T cấp ngày 12/4/2018 cho ông Bùi Văn D và Bà Nguyễn Thị A1, chuyển nhượng cho bà Bùi Thị L1 theo hồ sơ số TST.000003.CN ngày 07/01/2019 tại Văn phòng Đ1, chi nhánh thị xã S - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 00267.2019/HĐTC; Quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/01/2019 tại Văn phòng C, Thành phố Hà Nội;
  4. Nếu số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán cho toàn bộ nghĩa vụ nợ của bà Bùi Thị L1 tại P, thì P có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản khác và nguồn thu hợp pháp khác của bà Bùi Thị L1 để thanh toán hết toàn bộ nghĩa vụ nợ của bà Bùi Thị L1 cho P.

Ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.

* Bị đơn - bà Bùi Thị L1:

Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng khác, việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà, bị đơn bà Bùi Thị L1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà L1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Hợp đồng cho vay số 0901/2019/HĐTD/PVB-HVT ngày 09/01/2019 giữa nguyên đơn P và bị đơn bà Bùi Thị L1 là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các quy định của Luật các tổ chức tín dụng do đó có hiệu lực thi hành đối với các bên. Quá trình thực hiện Hợp đồng, bà L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết theo Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ đã ký nên Ngân hàng P đã có Đơn khởi kiện yêu cầu bà L1 trả số tiền nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét yêu cầu phát mại tài sản đảm bảo nêu trên của Ngân hàng P nhận thấy: Hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký kết, thực hiện đúng hình thức và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Bằng tài sản hợp pháp của mình, bà L1 thế chấp để đảm bảo cho khoản vay của bà, do đó Hợp đồng thế chấp trên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên.

Trường hợp bà L1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản đảm bảo là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 007765, số vào số cấp GCN: CS-ST 07660 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 12/4/2018 cho ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị A1, chuyển nhượng cho bà Bùi Thị L1 theo hồ sơ số TST.000003.CN ngày 07/01/2019 tại Văn phòng Đ1, Chi nhánh thị xã S - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 00267.2019/HĐTC; Quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/01/2019 tại Văn phòng C, Thành phố Hà Nội.

Trường hợp không đủ, bà L1 tiếp tục có trách nhiệm trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.

Đối với yêu cầu của Ngân hàng P tuyên nếu số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán cho toàn bộ nghĩa vụ nợ của bà Bùi Thị L1 tại P, thì P có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản khác và nguồn thu hợp pháp của bà Bùi Thị L1 để thanh toán hết toàn bộ nghĩa vụ nợ của bà Bùi Thị L1 cho P. Nhận thấy, đây là giai đoạn thi hành án dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[I]. Về thẩm quyền, quạn hệ pháp luật, thời hiệu khởi kiện và thủ tục tố tụng:

1. Về thẩm quyền:

Tại điểm H của Bản Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng (Văn bản này là một phần không thể tách rời của Hợp đồng cho vay số 0901/2019/HĐTD/PVB-HVT ký ngày 09/01/2019 goi tắt là Hợp đồng) giữa nguyên đơn Ngân hàng P và bị đơn bà Bùi Thị L1 có thoả thuận về việc giải quyết tranh chấp như sau: “Mọi tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện Hợp Đồng sẽ được các bên thương lượng, giải quyết trên tinh thần thiện chí, tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên. Trường hợp không giải quyết thông qua thương lượng được, hai bên thỏa thuận lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn (trong trường hợp nguyên đơn là cá nhân) hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn (trong trường hợp nguyên đơn là tổ chức). Trụ sở của Ngân H1 được hiểu là trụ sở chính hoặc trụ sở của Phòng giao dịch hoặc Chi nhánh đã ghi tại phân giới thiệu Hợp Đồng”. Ngân hàng P có địa chỉ trụ sở chính tại B N, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2. Về quan hệ pháp luật:

Ngân hàng TMCP Đ (P) khởi kiện bà Bùi Thị L1 yêu cầu Tòa án tuyên buộc bà L1 phải trả số tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng cho vay đã ký giữa Ngân hàng P với bà L1. Số tiền tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ đã ký giữa các bên, do đó quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

3. Về thời hiệu khởi kiện:

Ngân hàng P và bà Bùi Thị L1 ký Hợp đồng cho vay số 0901/HĐTD/PVB-HVT ngày 09/01/2019. Tại Khế ước nhận nợ kèm theo, các bên thỏa thuận về ngày đến hạn trả nợ cuối cùng là ngày 11/01/2039. Quá trình thực hiện Hợp đồng, do bà L1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 08/03/2024 Ngân hàng P nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm. Theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015, vụ án còn thời hiệu khởi kiện.

4. Về thủ tục tố tụng:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn bà Bùi Thị L1 có đăng ký nhân khẩu thường trú tại địa chỉ: Số A T, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xác minh Công an phường T cung cấp cho Tòa án biết “Bà Bùi Thị L1, sinh năm 1987, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Số A T, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội nhưng hiện bà L1 không sinh sống tại địa chỉ trên”. Đến nay, đi đâu không rõ mà không thông báo nơi cư trú mới cho nguyên đơn và cơ quan, người có thẩm quyền là thuộc trường hợp “cố tình giấu địa chỉ” theo điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quy định: “trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung” và xác định địa chỉ số A T, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội là địa chỉ cư trú cuối cùng của bà L1 theo quy định tại khoản 3 Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Bị đơn bà Bùi Thị L1 không đến Tòa án. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các Thông báo, quyết định của Tòa án yêu cầu bà T1 đến Tòa án làm việc và các Quyết định, Thông báo khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để triệu tập đương sự nhưng bà L1 vẫn vắng mặt không có lý do tại tất cả các buổi làm việc của Toà án. Do bà T1 không thực hiện nghĩa vụ của đương sự nên phải chịu hậu quả theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà Ngân hàng giao nộp và do Tòa án thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

Tòa án đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử vào hồi 08h30 ngày 26/6/2024 nhưng bị đơn bà L1 vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã có Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử vụ án vào hồi 08h30' ngày 16/7/2024. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà L1 vẫn vắng mặt không có lý do.

Đồng thời, Tòa án đã áp dụng Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự để nguyên đơn tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về thời gian tham gia phiên tòa. Tòa án đã tiến hành thủ tục đăng tin trên cổng thông tin điện tử của Tòa án về thời gian mở phiên tòa, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn bà Bùi Thị L1 vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà L1 là có căn cứ và đúng quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung vụ án:

2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn bà Bùi Thị L1 phải thanh toán số tiền nợ gốc, nợ lãi theo Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn P đối với bị đơn bà Bùi Thị L1, về việc buộc bà L1 phải thanh toán nốt khoản nợ theo Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ hai bên đã ký kết:

Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định vào ngày 09/01/2019 bà Bùi Thị L1 và Ngân hàng TMCP Đ ký (P) do ông Phạm Quốc T2, Giám đốc P - Chi nhánh H3 - Phòng G là đại diện đã ký Hợp đồng cho vay số 0901/HĐTD/PVB-HVT và Khế ước nhận nợ ngày 09/01/2019, với các điều khoản như sau:

  • - Số tiền vay là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).
  • Thời hạn cho vay: 240 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên.
  • Mục đích sử dụng vốn vay: H2 vốn mua bất động sản.
  • Ngày giải ngân: 11/01/2019.
  • Phương thức giải ngân: Chuyển khoản vào tài khoản số [...] mở tại P, người thụ hưởng Nguyễn Xuân T3.
  • Lãi suất: Từ ngày 11/01/2019 đến hết ngày 01/10/2020, lãi suất bằng 8,99%/năm; Từ ngày 01/10/2020, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần, bằng lãi suất tiền gửi Đại Chúng lĩnh lãi cuối kỳ của khách hàng cá nhân, có loại tiền bằng VNĐ, kỳ hạn 13 tháng theo Biểu lãi suất huy động của Ngân hàng C1 từng thời kỳ + Biên độ tối thiểu 4%/năm.
  • + Lãi suất trong hạn: Lãi suất áp dụng tại thời điểm giải ngân được ghi nhận tại mỗi Khế ước nhận nợ.
  • + Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng tại ngày đến hạn đối với dư nợ gốc đến hạn nhưng không được Bên vay trả nợ đúng hạn.
  • Lãi suất chậm trả lãi: Theo quy định của Ngân hàng nhưng không vượt quá 10%/năm.

Xét thấy: Các điều khoản chính của Hợp đồng cho vay, Bản điều khoản và điều kiện cấp tín dụng và Khế ước nhận nợ đều phù hợp với quy định của pháp luật, hình thức được lập thành văn bản, Hợp đồng được giao kết giữa các chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và đúng thẩm quyền, mục đích giao kết và nội dung Hợp đồng không trái pháp luật, không vi phạm điều cấm và các bên đều tự nguyện ký kết. Vì vậy, Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ trên có hiệu lực pháp luật và có giá trị ràng buộc giữa các bên.

2.2. Sau khi ký kết Hợp đồng cho vay trên,

ngày 11/01/20219, Ngân hàng P đã giải ngân cho bà L1 số tiền là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) theo Khế ước nhận nợ ngày 11/01/2019. Quá trình thực hiện Hợp đồng, bà Bùi Thị L1 đã thanh toán được một khoản nợ gốc là 41.747.669 đồng và khoản nợ lãi là 65.780.775 đồng. Sau đó, bà L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngày 25/5/2019 khoản nợ của bà L1 bị chuyển sang quá hạn. Ngân hàng P đã gửi nhiều Thông báo, Công văn yêu cầu bà L1 trả nợ, hoặc bàn giao tài sản bảo đảm cho Ngân hàng xử lý theo đúng quy định, nhưng bà L1 không thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng đã khởi kiện bà L1 đến Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L1 phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi của Hợp đồng cho vay tạm tính đến hết ngày 15/7/2024 là 3.546.843.759 đồng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà L1 không có mặt, không có lời khai về quá trình vay nợ, trả nợ. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ. Đối chiếu với khoản nợ gốc đã giải ngân, số tiền bà L1 đã trả Ngân hàng, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.3. Ngân hàng P yêu cầu bà L1 trả số tiền nợ lãi trong hạn; lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi.

Xét, theo Hợp đồng cho vay số 0901/2019/HĐTD/PVB-HVT ngày 09/01/2019 các bên thỏa thuận lãi suất cho vay cố định như sau:

  • Lãi suất: Từ ngày 11/01/2019 đến hết ngày 01/10/2020, lãi suất bằng 8,99%/năm; Từ ngày 01/10/2020, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần, bằng lãi suất tiền gửi Đại Chúng lĩnh lãi cuối kỳ của khách hàng cá nhân, có loại tiền bằng VNĐ, kỳ hạn 13 tháng theo Biểu lãi suất huy động của Ngân hàng C1 từng thời kỳ + Biên độ tối thiểu 4%/năm.
  • + Lãi suất trong hạn: Lãi suất áp dụng tại thời điểm giải ngân được ghi nhận tại mỗi Khế ước nhận nợ.
  • + Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng tại ngày đến hạn đối với dư nợ gốc đến hạn nhưng không được Bên vay trả nợ đúng hạn.
  • - Lãi suất chậm trả lãi: Theo quy định của Ngân hàng nhưng không vượt quá 10%/năm.

Đối với khoản lãi phạt chậm trả lãi, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị Quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao quy định về việc tính lãi đối với các Hợp đồng tín dụng xác lập kể từ sau ngày 01/01/2017. Theo đó: “Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mứclãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn”.

Hợp đồng tín dụng giữa P và bà Bùi Thị L1 ký kết vào tháng 01/2019 nên thuộc trường hợp được áp dụng về cách tính lãi suất như trên. Mức lãi suất P áp dụng đối với lãi chậm trả không vượt quá 10%/năm là phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về lãi suất giới hạn, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận lãi suất là sự tự nguyện của các bên, số tiền lãi trong hạn và quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc, thời gian quá hạn nhân với lãi suất vay theo đúng quy định của pháp luật và thỏa thuận lãi suất của các bên tại Hợp đồng và các quyết định về mức lãi suất từng thời điểm của Ngân hàng thể hiện tại “Bảng tính tổng hợp gốc lãi”.

Vì vậy, Ngân hàng P yêu cầu bà L1 thanh toán số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi phạt chậm trả lãi của số tiền nợ gốc trên là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Xác định tính đến hết ngày 15/7/2024 bà L1 còn nợ Ngân hàng P số tiền nợ lãi trong hạn là 1.081.835.720 đồng; lãi quá hạn là 239.359.856 đồng và lãi chậm trả lãi là 267.395.852 đồng. Tổng cộng là 1.588.591.428 đồng (Một tỷ, năm trăm tám mươi tám triệu, năm trăm chín mươi mốt nghìn, bốn trăm hai mươi tám đồng) là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Nguyên đơn Ngân hàng P yêu cầu bị đơn bà L1 tiếp tục phải thanh toán khoản lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ đã ký giữa hai bên kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 16/7/2024 cho đến khi bà L1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Xét yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi khoản nợ của nguyên đơn:

Khoản vốn vay của bà Bùi Thị L1 tại Ngân hàng P được thế chấp bằng một tài sản đảm bảo là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 007765, số vào số cấp GCN: CS-ST 07660 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 12/4/2018 cho ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị A1, chuyển nhượng cho bà Bùi Thị L1 theo hồ sơ số TST.000003.CN ngày 07/01/2019 tại Văn phòng Đ1, Chi nhánh thị xã S - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 00267.2019/HĐTC; Quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/01/2019 tại Văn phòng C, Thành phố Hà Nội.

Trường hợp bà L1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng P có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng P.

Hội đồng xét xử xét thấy: Để đảm bảo cho Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 00267.2019/HĐTC; Quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/01/2019 tại Văn phòng C, thành phố Hà Nội. Tài sản thế chấp trên đã đăng ký giao dịch tài sản bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 007765, số vào số cấp GCN: CS-ST 07660 do Sở T cấp ngày 12/4/2018 cho ông Bùi Văn D và Bà Nguyễn Thị A1, chuyển nhượng cho bà Bùi Thị L1 theo hồ sơ số TST.000003.CN ngày 07/01/2019 tại Văn phòng Đ1, chi nhánh thị xã S - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 00267.2019/HĐTC; Quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/01/2019 tại Văn phòng C, Thành phố Hà Nội.

Xét, Hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký kết, hình thức và nội dung thế chấp được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Cơ quan có thẩm quyền, do đó Hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên.

Tại Điều 1 của Hợp đồng thế chấp quy định: “Nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ thuộc bất kỳ loại nào mà khách hàng (đồng thời là bên thế chấp) phải trả cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán”.

Tại Điều 1 của Hợp đồng thế chấp quy định: “Nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ thuộc bất kỳ loại nào mà khách hàng (đồng thời là bên thế chấp) phải trả cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán”.

Như vậy, bà L1 tự nguyện thỏa thuận với Ngân hàng P về việc dùng toàn bộ tài sản của mình thế chấp để bảo đảm cho khoản vay của bà L1 tại P. Việc bà L1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán là cơ sở để P có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm. Yêu cầu của P về việc được kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 007765, số vào số cấp GCN: CS-ST 07660 do Sở T cấp ngày 12/4/2018 cho ông Bùi Văn D và Bà Nguyễn Thị A1, chuyển nhượng cho bà Bùi Thị L1 theo hồ sơ số TST.000003.CN ngày 07/01/2019 tại Văn phòng Đ1, chi nhánh thị xã S - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 00267.2019/HĐTC; Quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/01/2019 tại Văn phòng C, Thành phố Hà Nội, để thu hồi toàn bộ khoản nợ khi bà L1 vi phạm nghĩa vụ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Đối với yêu cầu của P tuyên nếu số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán cho toàn bộ nghĩa vụ nợ của bà Bùi Thị L1 tại P, thì P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản khác và nguồn thu hợp pháp của bà Bùi Thị L1 để thanh toán hết toàn bộ nghĩa vụ nợ của bà Bùi Thị L1 tại P.

Nhận thấy, đây là giai đoạn thi hành án dân sự, không thuộc thẩm quyền của Toà án nên Hội đồng xét xử không xét.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn bà Bùi Thị L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

Nguyên đơn Ngân hàng P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4]. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 223; Điều 280; Điều 305; Điều 429; Điều 466; Điều 468; Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Điều 318; Điều 323; Điều 342; Điều 355 của Bộ luật dân sự năm 2005;
  • - Điều 91; Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/HĐTP-TANDTC ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cáo quy định về việc tính lãi đối với các Hợp đồng tín dụng được xác lập sau ngày 01/01/2017;
  • - Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNNngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N);
  • - Thông tư số 12/2010/TT - NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N về việc hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận;
  • - Khoản 2 Điều 17 của Luật phí và lệ phí năm 2015.
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 1.2, điểm e khoản 1.4 Điều 1Mục II - Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo;

Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ (P) đối với bị đơn bà Bùi Thị L1, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
  2. Buộc bị đơn bà Bùi Thị L1 phải thanh toán trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ (P) số tiền nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi phạt chậm trả lãi của Hợp đồng cho vay số 0901/2019/HĐTD/PVB-HVT ngày 09/01/2019 và Khế ước nhận nợ ngày 09/01/2019, tạm tính đến hết ngày 15/7/2024 là: 3.546.843.759 đồng (Ba tỷ, năm trăm bốn mươi sáu triệu, tám trăm bốn mươi ba nghìn, bảy trăm năm mươi chín đồng), trong đó:
    • + Nợ gốc là 1.958.252.331 đồng;
    • + Lãi trong hạn là 1.081.835.720 đồng;
    • + Lãi quá hạn là 239.359.856 đồng;
    • + Lãi chậm trả lãi là 267.395.852 đồng;
  3. Bị đơn bà Bùi Thị L1 tiếp tục phải thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần N1 (P) khoản tiền lãi theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 0901/2019/HĐTD/PVB-HVT ngày 09/01/2019 và Khế ước nhận nợ ngày 09/01/2019 đã ký giữa hai bên kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 16/7/2024 cho đến khi bà L1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (P).
  4. Trường hợp bị đơn bà Bùi Thị L1 không trả được khoản nợ trên cho Ngân hàng thương mại cổ phần N1 (P), thì Ngân hàng thương mại cổ phần N1 (P) có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản bảo đảm là:

    Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 007765, số vào số cấp GCN: CS-ST 07660 do Sở T cấp ngày 12/4/2018 cho ông Bùi Văn D và Bà Nguyễn Thị A1, chuyển nhượng cho bà Bùi Thị L1 theo hồ sơ số TST.000003.CN ngày 07/01/2019 tại Văn phòng Đ1, chi nhánh thị xã S - theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 00267.2019/HĐTC; Quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/01/2019 tại Văn phòng C, Thành phố Hà Nội, để thu hồi toàn bộ khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (P).

  5. Sau khi phát mại tài sản bảo đảm thu hồi nợ, nếu số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm trừ đi các khoản chi phí thu hồi, trông giữ, bán tài sản và các chi phí liên quan khác... Ngân hàng thu nợ còn thừa, Ngân hàng sẽ trả lại phần thừa cho chủ tài sản. Nếu Ngân hàng thu nợ còn thiếu thì bà Bùi Thị L1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (P).
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bị đơn bà Bùi Thị L1 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 102.937.000 đồng (Một trăm linh hai triệu, chín trăm ba mươi bảy nghìn đồng).

    Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1 (P) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1 (P) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 50.017.000 đồng (Năm mươi triệu, không trăm mười bảy nghìn đồng) - theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006365 ngày 28/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.

  7. Quyền kháng cáo:

    Án xử công khai sơ thẩm, có mặt ông Phạm Đức A là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (P). Vắng mặt bị đơn bà Bùi Thị L1. Tòa án báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q.Hoàn Kiếm;
  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội
  • - Chi cục THADS Q. Hoàn Kiếm;
  • - Lưu HS, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hiền Hoà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/DS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 45/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng Đ. và bà L1.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger