TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HS- ST Ngày: 16 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Thanh Hải
- Ông Phạm Xuân Sang
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2024/HSST ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh năm 2004
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn V, xã M, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: hiện đang là sinh viên trường Cao đẳng F tại Hà Nội; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn T1 và bà Lê Thị H; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: không.
Bị hại:
Bà Lê Thị G, sinh năm 1956; địa chỉ: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương; (đã chết)
Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
- Ông Trần Văn D, sinh năm 1951
- Anh Trần Văn D1, sinh năm 1980
- Anh Trần Văn K, sinh năm 1985
- Anh Trần Văn T2, sinh năm 1982
- Chị Trần Thị C, sinh năm 1990
Đều ở địa chỉ: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương;
Người đại diện theo ủy quyền của anh D1, anh K, anh T2, chị C là ông Trần Văn D
(Tại phiên tòa có mặt bị cáo T. Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn T có giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở G1 cấp ngày 12/7/2023. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 28/11/2023, Phạm Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH, sơn màu đen, đeo biển số 34B4 - 352.37 một mình từ nhà ở xã M đến thị trấn T sau đó đi theo đường tỉnh lộ 391 hướng thị trấn T đi TP .. Khoảng 16 giờ 35 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đến Km 17+400 đường tỉnh lộ 391 thuộc địa phận thị trấn T, tại đây là khu vực ngã tư giao cắt, mặt đường trải nhựa bằng phẳng rộng 1140cm, được chia hai chiều xe chạy bằng vạch sơn màu vàng, nét đứt, hai bên mép đường có lối mở vào trường THCS P và khu dân cư A thị trấn T. Lúc này trên đường có nhiều phương tiện tham gia giao thông ở cả hai chiều đường xe chạy. T thấy sát lề đường bên phải theo chiều di chuyển của T có một chiếc ô tô tải đang đỗ nên T điều khiển xe mô tô đi ra giữa đường. T tiếp tục điều khiển cho xe mô tô đi thẳng với tốc độ khoảng hơn 50km/h. Lúc này, bà Lê Thị G điều khiển xe máy điện sơn màu đỏ, không đeo biển kiểm soát đi hướng thị trấn T - Hải Dương đang dừng ở lề đường phải, quan sát hai chiều đường để chuyển hướng sang đường (hướng rẽ sang lối mở ở lề đường trái theo chiều đi của bà G). Khi T điều khiển xe mô tô đến gần đuôi xe ô tô tải đang dừng đỗ thì phát hiện phía trước cách đầu xe của T điều khiển khoảng 07 mét, phía trước đầu xe ô tô tải đang đỗ, bà G bắt đầu chuyển hướng sang đường. Do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên phần đầu xe mô tô do T điều khiển đâm vào phần thân xe máy điện do bà G điều khiển (vị trí ốp nhựa bảo vệ khu vực bình ắc quy và bàn để chân người lái) làm xe máy điện bị đẩy trượt rê trên đường tạo vết cày xước dài 460cm, dầu vết cách mép đường bên phải là 455cm, cuối vết cách mép đường bên phải 280 cm, bà G ngã xuống đường (dấu vết D- vết máu). Hậu quả, bà G bị thương, được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H đến khoảng 21 giờ cùng ngày, bà G tử vong. T bị xây sát da, hai phương tiện bị hư hỏng nhẹ.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 411/KLGĐTT - KTHS ngày 30/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Nguyên nhân chết của bà Lê Thị G do đa chấn thương (chấn thương sọ não, chấn thương vùng kín) (bút lục số 34-35).
Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKSTK, ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương để xét xử đối với bị cáo Phạm Văn T về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX ) tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS đối với Phạm Văn T, xử phạt bị cáo T từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo Phạm Văn T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình công nhận quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất, được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, bản ảnh, bệnh án, kết luận giám định pháp y về tử thi, biên bản giải trình hình ảnh camera, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 55 phút ngày 28/11/2023, tại Km 17+400 đường tỉnh lộ 391, thuộc địa phận thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Phạm Văn T có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô biển số 34B4-352.37 hướng thị trấn T đi thành phố H do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ qua nơi đường bộ giao nhau nên đâm vào xe máy điện không đeo biển kiểm soát do bà Lê Thị G điều khiển đi cùng chiều và đang sang đường. Hậu quả bà G bị chết.
[3] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc điều khiển xe ô tô tham gia giao thông thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc nơi đường bộ giao nhau là vi phạm quy định của Luật giao thông đường bộ và gây hậu quả nghiêm trọng, cụ thể trong vụ án hậu quả bị hại là bà Lê Thị G chết nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ với tình tiết định khung "Làm chết người" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của VKSND huyện Tứ Kỳ đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, đó là những quy định nhằm đảm bảo an toàn giao thông vận tải, đảm bảo cho hoạt động giao thông vận tải đường bộ được thông suốt, được tiến hành bình thường và bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của công dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, tổ chức và cá nhân nên cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo cùng gia đình bị cáo thỏa thuận bồi thường cho bị hại, đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, quá trình học tập bị cáo có thành tích nên được tặng thưởng giấy khen, bên cạnh đó nguyên nhân xảy ra tại nạn cũng có một phần lỗi của bị hại khi chuyển hướng không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn khi chuyển hướng sang đường nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giao dục riêng đối với bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện đang là sinh viên trường Cao đẳng F tại Hà Nội, không hành nghề lái xe. Do đó, HĐXX xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Do không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe nên trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm Văn T hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, các bên đã tự thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại về vật chất và không còn yêu cầu bồi thường nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án.
[9] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của BLHS;
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Phạm Văn T cho UBND xã M, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Căn điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Trả lại bị cáo Phạm Văn T 01 giấy phép lái xe ô tô hạng A1 số [...] do Sở G1 cấp ngày 12/7/2023 mang tên Phạm Văn T hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 BLTTHS. Bị cáo Phạm Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm ngày), kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/5/2024. Người đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thành |
Bản án số 45/2024/HS- ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal case)
- Số bản án: 45/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
