Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày: 16-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH RÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Bà Nguyễn Thị Anh Đào

2. Ông Ngô Văn Chiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên toà: Ông Cao Văn Nở - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 5 năm 2024, đối với:

Bị cáo Nguyễn Thị H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1970 tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi cư trú ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hoá (học vấn) 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết); chồng Nguyễn Trọng D, sinh năm 1968. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (đã ly hôn) Con: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án: không có; tiền sự: không có; nhân thân: bị Tòa án nhân dân Quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 29/2015/HSST ngày 20/5/2015 (đã xóa án tích); bị tạm giữ vào ngày 18/12/2023 đến ngày 27/12/2023 bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cho đến nay, có mặt.

Bị hại: Bà Trầm Yến N1, sinh ngày 25/02/1995. Nơi thường trú: Khóm C, T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nơi ở hiện nay: khóm D, T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Thanh P, sinh ngày 01/01/1983. Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ (có mặt).

Người làm chứng:

Ông Nguyễn Nhật D1, sinh ngày 13/12/1993. Địa chỉ: ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nơi ở hiện nay: Khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).

Bà Nguyễn Thị Kim D2, sinh ngày 10/02/1993. Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 18/12/2023, bị cáo Nguyễn Thị H kêu con ruột là Nguyễn Thị Kim D2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Piaggio, loại Vespalx125, màu sơn trắng, biển số 65X3 - 5651 chở bị cáo đi từ huyện P, thành phố Cần Thơ đến huyện T, tỉnh Trà Vinh để mua quần áo may sẵn đem về bán lại để kiếm lời. Sau khi đến khu vực thị trấn T, do thiếu tiền để mua quần áo nên bị cáo kêu bà D2 ghé vào tiệm vàng để bán một đôi bông tai bằng vàng. Sau đó, bà D2 ghé vào tiệm vàng “Tư Có 2” tại khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh do bà Trầm Yến N1 làm chủ để cho bị cáo bán đôi bông tai. Lúc này, tại tiệm vàng có bà N1 đang đứng coi mua, bán vàng tại tiệm, bị cáo đem đôi bông tai ra bán nhưng bà N1 không mua, do vàng của bị cáo bán không rõ nguồn gốc.

Sau đó, bị cáo thấy trong tủ để nữ trang của bà N1 có trưng bày nhiều mẫu nữ trang đẹp nên bị cáo kêu bà N1 lấy ra để bị cáo và bà D2 xem, khi nào có tiền sẽ quay lại mua. Nghe vậy bà N1 lấy ra một số loại dây chuyền và lắc đeo tay bằng vàng để bị cáo xem. Lợi dụng lúc bà N1 đang đeo thử lắc vào tay cho bà D2, thiếu sự chú ý và quan sát nên bị cáo đã lén lút dùng tay phải lấy trộm 01 (một) sợi dây chuyền bằng vàng, loại vàng 18K, dạng mắc xích có móc khóa, trọng lượng 05 chỉ 05 phân để vào trong túi áo khoác bên phải của bị cáo đang mặc trên người cất giấu, đồng thời bị cáo đi vòng qua phía bên phải của bà D2 để tránh sự phát hiện của bà N1. Sau khi trộm được sợi dây chuyền vàng, bị cáo H kêu bà D2 đi ra về khi nào có tiền sẽ quay lại mua. Sau đó, bà D2 điều khiển xe mô tô chở bị cáo đi về theo hướng xã P. Riêng bà N1, sau khi bị cáo và bà D2 rời khỏi tiệm thì phát hiện bị mất trộm sợi dây chuyền có đặt điểm nêu trên nên trình báo với Cơ quan Công an và thông báo cho chồng là ông Nguyễn Nhật D1 biết để đuổi theo. Khi bà D2 điều khiển xe chở bị cáo đến đoạn đường thuộc xã P thì bị lực lượng Công an, ông D1 bắt quả tang và đưa về Cơ quan Công an để làm việc. Tại Cơ quan Công an, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Căn cứ vào Bản kết luận giám định số: 240/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, dạng mắt xích có móc khóa, khối lượng 20,6931 gam, gửi giám định có thành phần kim loại Vàng (Au) 64,20%; Bạc (Ag) 13,44%; Đ (Cu) 22,36%.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 33/KL-HĐĐGTS, ngày 26/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, dạng mắt xích có móc khóa, khối lượng 20,6931 gam, gửi giám định có thành phần kim loại Vàng (Au) 64,20%; Bạc (Ag) 13,44%; Đ (Cu) 22,36%. Kết quả cân quy đổi thành đơn vị tính, sợi dây chuyền có trọng lượng 05 chỉ 05 phân tại thời điểm ngày 18/12/2023 có giá trị là 23.065.000 đồng (Hai mươi ba triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn đồng)

Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

Ngày 18 tháng 12 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành tạm giữ tài sản, đồ vật từ bị cáo gồm: 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại có thành phần vàng (A) là 64,20%; B (A) là 13,44%; Đ (Cu) là 22,36%; có khối lượng là 20,6931 gam, quy đổi là 05 chỉ, 05 phân, dạng mắc xích có móc khóa, đã qua sử dụng. Sau khi tiến hành giám định, định giá tài sản. Xét thấy, không cần thiết tiếp tục tạm giữ tang vật có liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho bà Trầm Ngọc Y là chủ sở hữu nhận lại để quản lý vào ngày 28/12/2023

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H khai vào khoảng 09 giờ 20 phút ngày 18/12/2023, tại Khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, dạng mắt xích có móc khóa, trọng lượng 05 chỉ 05 phân (tương đương khối lượng 20,6931 gam) có giá trị là 23.065.000 đồng của bà Trầm Yến N1 thì bị bắt quả tang đúng như cáo trạng đã mô tả và truy tố.

Bị hại bà Trầm Yến N1 vắng mặt tại phiên tòa, bà N1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, đồng thời có đơn yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ông Nguyễn Thanh P đã nhận lại chiếc xe xe mô tô nhãn hiệu Piaggio, loại Vespalx125, màu sơn trắng, biển số 65X3 – 5651 và không có yêu gì.

Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị với Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023.Về dân sự, bị hại đã nhận lại đầy đủ và không có yêu cầu nên không xem xét. Về án phí, buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tự bào chữa và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm một sợi dây chuyền tại tiệm V thuộc khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Qua khám nghiệm hiện trường, trích xuất camera xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với diễn biến sự việc; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với đặc điểm sợi dây chuyền bị cáo giao nộp lại và phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng. Tại phiên tòa, bị cáo trình bày lời khai thừa nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố cũng như lời khai tại phiên tòa là do bị cáo tự khai ra mà không bị ai ép buộc, bị cáo giữ nguyên lời khai mà không có thay đổi gì.

Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 09 giờ 20 phút ngày 18/12/2023, tại Khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Bị cáo Nguyễn Thị H đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, dạng mắt xích có móc khóa, trọng lượng 05 chỉ 05 phân (tương đương khối lượng 20,6931 gam) có giá trị là 23.065.000 đồng của bà Trầm Yến N1 nên hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản”. Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật dân sự bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh bị cáo phạm tội là do bị cáo muốn có tiền phục vụ cho lợi ích của bản thân mà không phải lao động vất vả; một phần do sự thiếu cảnh giác của bà N1. Mục đích phạm tội của bị cáo là nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại.

[3] Tội phạm bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng, vụ án chỉ một mình bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại mà không có đồng phạm. Xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án nhân dân Quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 29/2015/HSST ngày 20/5/2015, mặc dù đã được đã xóa án tích nhưng sau khi cải tạo giáo dục bị cáo không sửa đổi mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội tương tự. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý công minh, đúng theo pháp luật như đề nghị của Viện kiểm sát mới đủ sức răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo điều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có trình độ học vấn thấp, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xét đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét quan điểm của viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn nộp án phí, giảm án phí và không thuộc trường hợp không phải nộp án phí nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

[6] Tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không khiếu nại về hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 18/12/2023.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - Công an huyện Trà Cú;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị H bị truy tố về hành vi trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger