|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15/7/2024
V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
---
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Trương Văn Bắc
- Ông: Quản Giang Thao
Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Tư – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2024/TLST – HNGĐ ngày 04 tháng 05 năm 2024 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXX-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2024/QĐST – ST, ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Dương Thị H – Sinh năm: 1987
- - Bị đơn: Anh Bùi Khắc T - Sinh năm: 1987
Đều có địa chỉ: Thôn T, xã N, tx. N, Thanh Hóa.
Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên tòa chị Dương Thị H trình bày như sau: Chị và anh Bùi Khắc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, TX. N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 27/10/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2013 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do trong cuộc sống hai bên có nhiều bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Anh chị đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân hoàn toàn từ năm 2015 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Bùi Thị H1 – Sinh ngày: 10/5/2007 và Bùi Thị Gia L – Sinh ngày: 05/8/2013. Nay ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của các cháu. Vê cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu.
Cháu H1 có nguyện vọng ở với mẹ, cháu Gia L có nguyện vọng được ở với bố.
Về tai sản và công nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về quan điểm của anh Bùi Khắc T: Quá trình giải quyết vụ án đã nhiều lần Tòa án triệu tập anh T lên làm việc nhưng anh T cố tình trốn tránh không lên làm việc vì vậy Tòa án không thể lấy lời khai hay nguyện vọng của anh T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, về phía bị đơn không chấp hành theo đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56; 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử cho chị Dương Thị H được ly hôn với anh Bùi Khắc T. Về con chung giao cháu H1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Gia L cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét. Buộc chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Chị Dương Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Bùi Khắc T là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn thị xã N nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Do anh T cố tình trốn tránh nên Tòa án không thể làm việc được.
- Về con chung: Chị H và anh T có hai con chung là Bùi Thị H1 – Sinh ngày: 10/5/2007 và Bùi Thị Gia L – Sinh ngày: 05/8/2013. Nguyện vọng của chị H là các con muốn ở với ai thì sẽ do các con quyết định. Cháu H1 có nguyện vọng được ở với chị H, cháu Gia L có nguyện vọng được ở với anh T. Xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện anh chị có 02 con chung, hiện tại cháu lớn đang ở với mẹ, cháu bé đang ở với bố. Xét thấy cả chị H và anh T đều có đủ điều kiện để nuôi con, hơn nữa từ khi bố mẹ ly thân cho đến nay cháu H1 vẫn ở với mẹ và cháu Gia L vẫn ở với bố. Để đảm bảo cuộc sống của các cháu không bị xáo trộn và xét theo nguyện vọng của các cháu. HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ giao cháu H1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Gia L cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do mỗi người đều có trách nhiệm nuôi dưỡng một cháu nên không buộc chị H và anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Các bên được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp các bên lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của nhau.
- Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Buộc chị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
- Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa lần thứ nhất anh T vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tiến hành tống đạt thủ tục hợp lệ, đúng theo quy định cho anh T vì vậy HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt anh T. Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt chị H.
Xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thị xã N, Thanh Hóa nên là vợ chồng hợp pháp. Quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn hay xích mích gì hay không thì địa phương không năm được do anh chị không báo cáo nhưng anh chị đã sống ly thân từ nhiều năm nay. Qua xác minh tại địa phương HĐXX xét thấy hiện tại chị H và anh T đã sống ly thân từ nhiều năm nay điều này chứng tỏ đời sống hôn nhân của anh chị không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn với anh T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS ; Căn cứ vào các Điều 51, 56; khoản 2 Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ và o điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quy ết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Dương Thị H
- Về hôn nhân: Xử cho chị Dương Thị H được ly hôn với anh Bùi Khắc T.
- Về con chung: Chị H và anh T co hai con chung là Bùi Thị H1 – Sinh ngày: 10/5/2007 và Bùi Thị Gia L – Sinh ngày: 05/8/2013. Nay ly hôn giao cháu H1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Gia L cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Về mức cấp dưỡng: Các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.
- Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Buộc chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007157 ngày 04 tháng 05 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị H đã thi hành xong phần án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các đương sự. Các đương sự được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.
- Về quyền đi lại, thăm nom con chung: Các bên được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp các bên lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của nhau.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Cúc |
Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị và anh Bùi Khắc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, TX. N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 27/10/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2013 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do trong cuộc sống hai bên có nhiều bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Anh chị đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân hoàn toàn từ năm 2015 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
