TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15 - 4 - 2024
Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thiện
2. Ông Nguyễn Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 421/2023/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 10 năm 2023; về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Kim K, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Số nhà C, đường N, tổ I, khu phố I, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Chổ ở hiện nay: Số nhà G, xóm B, thôn B, xã G, huyện T, Bình Thuận.
2. Bị đơn: Anh Võ Quốc T, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Số nhà C, đường N, tổ I, khu phố I, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt các đương sự
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án, cũng như tại phiên toà nguyên đơn trình bày:
Chị Đỗ Thị Kim K, anh Võ Quốc T tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn chị K, anh T chung sống hạnh phúc được một thời gian, thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng không có tiếng nói chung, thiếu tôn trọng và nghi ngờ nhau. Bản thân cả hai đã cố gắng thay đổi, hoà hợp, nhưng vẫn không có kết quả. Do đó chị K đã bỏ về xã G, huyện T sinh sống; cũng kể từ đó chị K, anh T ly thân và không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc gì nhau. Hiện nay chị K không còn tình cảm với anh T, nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Quá trình chung sống chị K, anh T có hai người con chung là Võ Quốc K1, sinh ngày 30/3/2011, Võ Ngọc Huyền D, sinh ngày 31/10/2013, tại đơn khởi kiện chị K yêu cầu Toà án giải quyết quyền nuôi con. Tuy nhiên, quá trình chuẩn bị xét xử chị K rút lại không yêu cầu Toà án giải quyết quyền nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung chị K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo hồ sơ vụ án, cũng như tại phiên toà bị đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân anh T thống nhất như trình bày của chị Đỗ Thị Kim K. Sau khi kết hôn anh T, chị K chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian sau này chị K có quan hệ bất chính với người khác, bản thân anh T đã nhiều lần bỏ qua; tuy nhiên hạnh phúc không kéo dài. Sau đó chị K bỏ về nhà cha mẹ tại xã G, huyện T sinh sống cho đến nay. Quá trình đó anh T, chị K không còn quan tâm, liên lạc gì nhau. Mặc dù, cuộc sống vợ chồng có những mâu thuẫn, xích mích không đáng có, nhưng hiện nay anh T vẫn còn tình cảm với chị K, nên không đồng ý ly hôn và đề nghị Toà án hoà giải để đoàn tụ. Về con chung, tài sản chung, nợ chung anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bị đơn anh Võ Quốc Thiện thường trú tại huyện Đ nên việc khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Tại đơn khởi kiện chị Đỗ Thị Kim K yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giải quyết quyền nuôi con với anh Võ Quốc T. Nên Toà án xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; tuy nhiên, quá trình chuẩn bị xét xử, cũng như tại phiên toà chị K rút lại yêu cầu giải quyết quyền nuôi con, nên quan hệ pháp luật hiện cần phải giải quyết là “Ly hôn” được quy định tại các khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Vụ án T1 án không tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, đồng thời đối tượng tranh chấp là ly hôn nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[4] Xét thấy, việc nguyên đơn chị K rút yêu cầu Toà án giải quyết quyền nuôi con Võ Quốc K1, sinh ngày 30/3/2011, Võ Ngọc Huyền D, sinh ngày 31/10/2013 là tự nguyện, nên cần đình chỉ đối với yêu cầu này là phù hợp.
[5] Chị Đỗ Thị Kim K, anh Võ Quốc T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 29/4/2009, số vào sổ 67 quyền số 01/2009, tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện Đ đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
[6] Sau khi kết hôn chị K, anh T chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong việc giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Mặc dù chị K, anh T đã tự động viên, an ủi nhay thay đổi, để chung sống hạnh phúc, nhưng không có kết quả. Chị K xác định hiện nay không còn tình cảm với anh T nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Quá trình làm việc cũng như tại phiên toà anh T cũng thừa nhận cuộc sống vợ chồng thời gian qua có nảy sinh mâu thuẫn, hiện cả hai đã ly thân và không còn quan tâm, chăm sóc gì nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị K và anh T đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặc dù anh T không đồng ý ly hôn, nhưng chị K cương quyết ly hôn. Do đó nếu có tiếp tục chung sống sẽ không tạo dựng được hạnh phúc mà mâu thuẫn sẽ lại càng nghiêm trọng hơn. Nên, cần xử cho chị K được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[7] Các bên không có tranh chấp và không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung, nợ chung, nên không xem xét.
[8] Chị K phải chịu án phí ly hôn.
[9] Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 146, khoản 4 Điều 147, Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị Kim K về việc yêu cầu Toà án giải quyết quyền nuôi con Võ Quốc K1, sinh ngày 30/3/2011; Võ Ngọc Huyền D, sinh ngày 31/10/2013.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Đỗ Thị Kim K.
Chị Đỗ Thị Kim K được ly hôn với anh Võ Quốc T.
Giấy chứng nhận kết hôn đăng ký ngày 29/4/2009, số vào sổ 67, quyền số 01/2009 tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận hết hiệu lực, kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị Kim K phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 00175894, ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị K đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đình Trường |
Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn
- Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Kim Kiều-Võ Quốc Thống
