TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày 14 - 8- 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phúc An Hoành.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tăng Thị Dương và bà Nguyễn Thị Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Trần Công Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm - Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần - Trại tạm giam Công an tỉnh T xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2024/TLST - HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Bình G (tên gọi khác: Không), sinh ngày 27/9/1999 tại tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị H; vợ Nguyễn Thị L và 02 con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 31/5/2022 bị Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng, phạt tiền 1.500.000 đồng (chưa chấp hành).
Bị bắt tạm giam từ ngày 09/11/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
2. Họ và tên: Diệp Thị V (tên gọi khác: Không), sinh ngày 07/9/1995 tại tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Diệp Văn B và bà Leo Thị N; chồng Trần Văn D và 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Trần Bình G: Bà Luân Thị N1 - Luật sư, Công ty L4 thuộc Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: Số F đường V, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Đỗ Văn H1, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn D, M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Văn H2, sinh năm 1963 (là bố đẻ anh Đỗ Văn H1); địa chỉ: Thôn D M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Người đại diện theo ủy quyền của ông Đỗ Văn H2: Anh Đỗ Văn V1, sinh năm 1983 (anh trai H1); địa chỉ: Thôn B T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (theo giấy ủy quyền lập ngày 22/6/2023), có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn H1: Ông Tạ Quang C - Luật sư, Văn phòng L5 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh H; địa chỉ: Số C, đường B, tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, có mặt.
- Chị Trần Thị X, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang, có mặt.
- Chị Leo Thị Kim O, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Chị Lục Thị H3, sinh năm 1997; địa chỉ: Khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1997; địa chỉ: Khu E, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
- Chị Hoàng Thị Q, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn B T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, có mặt.
- Anh Hoàng Minh T1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Thúy L1, sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ B, phường Q, thành phố H, tỉnh Hà Giang, vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Chị Hoàng Thị Hoa M, sinh năm 1997; địa chỉ: Khu E, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/10/2022, Trần Bình G xuất cảnh sang Thái Lan, sau đó sang Myanmar (theo lời khai của G do Diệp Văn T2 ở cùng thôn tổ chức đưa đi) làm việc tại một công ty (không xác định được địa chỉ) do người Hồng Kông, Trung Quốc làm chủ, G được phân công làm việc ở bộ phận nhân sự để tuyển người. Quá trình làm việc, G sử dụng số điện thoại di động 0837.600.xxx và 18163615073 (số thuê bao của Trung Quốc) lập 02 tài khoản Zalo là “A A Phong C1” và “Bi Phong” để đăng bài tuyển người sang Thái Lan làm việc nhẹ, lương cao, được nuôi ăn ở và hỗ trợ tiền vé máy bay từ Việt Nam đến Thái Lan.
Từ tháng 11/2022 đến tháng 3/2023, Trần Bình G đã nhiều lần tổ chức cho nhiều người; Diệp Thị V, trú tại thôn B, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã một lần môi giới để G tổ chức đưa người nhập cảnh sang Thái Lan sau đó đưa sang Myanmar lao động bất hợp pháp, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Đầu tháng 11/2022, Đỗ Văn H1, trú tại thôn D M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang thấy bài viết tuyển người đăng trên tài khoản Zalo “A A Phong C1” nên H1 sử dụng tài khoản Zalo “Đỗ H1” nhắn tin trao đổi với Trần Bình G, G nói với H1 công việc làm nhân viên văn phòng, chỉ cần biệt đánh máy tính, tiền công từ 18.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng/ 01 tháng, được nuôi ăn, ở, đóng tiền phí Visa hằng tháng, nếu H1 đồng ý đi thì tự làm hộ chiếu rồi chụp ảnh gửi qua Zalo để công ty mua vé máy bay cho H1 sang Thái Lan và bố trí người đón đến công ty. Do H1 chưa đồng ý đi nên G đã nhiều lần nhắn tin, gọi video qua Z rủ H1 đi sang Thái Lan lao động. Qua trao đổi, G biết H1 đang có quan hệ tình cảm với chị Nguyễn Thị Thúy L1, trú tại tổ B, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang nên khi G nhắn tin, gọi video rủ H1 thì chị L1 cùng tham gia và nói không muốn cho H1 đi lao động tại Thái Lan, nhưng sau đó H1 vẫn quyết định đi và tự đến Công an tỉnh T làm hộ chiếu. Đến ngày 15/11/2022 H1 được cấp Hộ chiếu phổ thông số P00778164 rồi thông báo cho G.
Sau khi được H1 thông báo, G sử dụng tài khoản Telegram “Banng” nhắn tin thông báo đến nhóm T3 “HR VN” của bộ phận nhân sự công ty và gửi ảnh chụp hộ chiếu của H1 cho Diệp Văn T2, trú tại thôn B, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang là người quản lý của công ty biết để đặt mua vé máy bay cho H1 đến Thái Lan vào ngày 20/11/2022. Sau khi mua được vé máy bay, G gửi ảnh vé máy bay, vé phòng nghỉ ở Thái Lan cho H1 qua Z, hướng dẫn H1 khi đến sân bay N thì đưa ảnh chụp vé máy bay cho nhân viên sân bay để được đổi sang vé giấy; ảnh chụp vé phòng nghỉ sử dụng khi H1 đến Thái Lan và bảo H1 khi đến sân bay N thì chụp ảnh gửi qua Z cho G.
Sáng ngày 20/11/2022, H1 đến sân bay N rồi chụp ảnh gửi qua Z thông báo cho G biết, sau đó làm thủ tục và xuất cảnh hồi 10 giờ 00 phút 46 giây cùng ngày trên chuyến bay VJ903. Khi đến sân bay B, Thái Lan, H1 thông báo trên Zalo cho G biết, G bảo H1 ra cửa sân bay, sau đó có người đón lên ô tô đưa đến một nhà nghỉ và H1 sử dụng ảnh vé phòng nghỉ để ngủ qua đêm. Đến chiều ngày 21/11/2022, H1 được xe ô tô khác đến đón, đưa đến bờ sông biên giới Thái Lan rồi được đưa qua sông đến Myanmar. Khi H1 đến công ty được G đón, đưa đến gặp T2 để giới thiệu với người chủ công ty, ký hợp đồng làm việc 06 tháng với công việc tìm kiếm, kết bạn với những người Việt Nam sử dụng mạng xã hội để giới thiệu vào nhóm Zalo cho bộ phận khác của công ty thực hiện lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, tiền công được trả từ 18.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng/ tháng. G được công ty trả 200USD tiền công giới thiệu Hoạt đến công ty làm việc, trả cùng vào tiền công tháng 12/2022 của G (Thông báo số 6209/TB-KBNN ngày 30/11/2022 của Kho bạc Nhà nước về tỷ giá hoạch toán ngoại tệ tháng 12/2022: 1 USD = 23.681 đồng).
Đến ngày 06/5/2023, H1 cùng với Hoàng Minh T1, trú tại thôn K, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn và một số người khác làm cùng bỏ trốn khỏi công ty ở Myanmar, bơi qua sông về đến M, tỉnh Tak, Thái Lan thì H1 bị bắn chết. Sau khi H1 chết, T1 đã tìm và dùng tài khoản qua Z “Minh T1” liên hệ với tài khoản Zalo ""Hoang Quynh” của chị Hoàng Thị Q (chị dâu H1), trú tại thôn B T, xã T, huyện H thông báo việc Hoạt bị bắn chết tại Thái Lan.
Ngày 22/6/2023, ông Đỗ Văn H2 (bố của Đỗ Văn H1), trú tại thôn D M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã có đơn tố giác hành vi của Trần Bình G.
- Lần thứ hai: Khoảng tháng 02/2023, G đang làm quản lý nhà hàng bán đồ ăn V2 ở công ty tại Myanmar do người Hồ N, Trung Quốc làm chủ. G sử dụng tài khoản Zalo “Bi Phong” đăng bài tuyển dụng người Việt Nam từ 18 đến 32 tuổi làm phụ bếp cho nhà hàng với tiền công được trả là 26.000.000 đồng/ tháng. Khi thấy G đăng bài tuyển dụng, Diệp Thị V đã sử dụng tài khoản Zalo “Diệp Mai V3” trao đổi với G qua tài khoản Zalo “Bi Phong” để hỏi về công việc, G nói với V3 tên của G là Trần Đạo P, sinh ngày 28/5/1993, nơi thường trú 1158 H, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, đang làm quản lý cho công ty ở Thái Lan cần tuyển nhân viên văn phòng và phụ bếp với tiền công được trả là 26.000.000 đồng/ tháng, được nuôi ăn, ở, miễn phí visa cư trú, ký hợp đồng lao động, nếu làm việc văn phòng sẽ được công ty hỗ trợ mua cho vé máy bay đến Thái Lan, làm phụ bếp thì tự mua vé máy bay đến công ty sẽ chỉ trả, công ty bố trí người đón từ sân bay B, Thái Lan đến công ty, người đi lao động gửi ảnh chụp hộ chiếu, căn cước công dân cho G. Sau đó G gửi cho V3 ảnh chụp căn cước công dân số [...] mang tên Trần Đạo P để V3 tin tưởng, đồng thời G thoả thuận nếu V3 giới thiệu người sang Thái Lan làm việc văn phòng được trả công 9.000.000 đồng/ người, làm việc phụ bếp được trả công 6.000.000 đồng/ người, V3 đồng ý. Do không thường xuyên sử dụng tài khoản Zalo “Bi Phong” nên G gửi cho V3 tài khoản Zalo “A A Phong C1” được đăng ký bằng số điện thoại 0837.600.xxx của G để V3 kết bạn, liên hệ.
Sau khi trao đổi với G, V3 nói với chị Trần Thị X (chị chồng và ở cùng nhà với V3) và chị Leo Thị Kim A(chị dâu con bác bên chồng của V3), đều ở cùng thôn về công việc phụ bếp ở Thái Lan như G đã trao đổi với V3 thì chị X và chị Kim A đồng ý. Sau đó, chị X, chị Kim A tự làm hộ chiếu và được Cục Q2 cấp hộ chiếu (chị X hộ chiếu số P01487451 cấp ngày 16/02/2023; chị Kim A hộ chiếu số P01413110 cấp ngày 13/02/2023).
Ngày 07/3/2023, V3 nói chuyện qua Messenger với chị Hoàng Thị Hoa M (là bạn V3) qua nói chuyện V3 biết anh Nguyễn Văn D1 (chồng chị M) không có công việc ổn định nên đã nói với chị M về việc G đang cần tuyển người đi làm phụ bếp tại Thái Lan, chị M đồng ý để anh D1 đi làm phụ bếp tại Thái Lan (trước đó, anh D1 đã được cấp hộ chiếu số C3899826 cấp ngày 27/9/2017).
Ngày 09/3/2023, V3 thông báo qua tài khoản Zalo “A A Phong C1” cho G biết có chị X, chị Kim A và anh D1 đồng ý đi Thái Lan làm phụ bếp, G bảo V3 lập nhóm Z có tài khoản Zalo của V3, G, chị X, chị Kim A và anh D1 để G hướng dẫn thủ tục, lộ trình đi đến công ty ở Thái Lan. Sau khi V3 lập nhóm Z, G yêu cầu mọi người gửi ảnh chụp Căn cước công dân, hộ chiếu lên nhóm và bảo mọi người tự mua vé máy bay đến sân bay B, Thái Lan và hướng dẫn mọi người mua vé máy bay dạng du lịch khứ hồi (chiều đi và chiều về), đi từ sân bay N, Hà Nội đến sân bay T, Thành phố Hồ Chí Minh rồi bay sang sân bay B, Thái Lan, đến nơi sẽ có người đón.
Do không biết mua vé máy bay trực tuyến nên chị X, chị Kim A và anh D1 nhắn tin Z nhờ V3 mua hộ vé máy bay. V3 truy cập vào trang Wed đặt mua vé máy bay đi từ sân bay N đến sân bay T cho chị X, chị Kim A và D1 hết 4.811.700 đồng; từ sân bay T đến sân bay B hết 8.931.000 đồng (ngày bay 12/3/2023), V3 thanh toán tiền mua vé máy bay qua tài khoản Ngân hàng V5 số 0821000068316 của V3. Sau đó V3 gửi ảnh chụp nội dung thanh toán vé 02 chuyến bay gửi vào tài khoản Zalo “A A Phong C1” và gửi lên nhóm Z để mọi người biết.
Chiều ngày 09/3/2023, do biết chị Lục Thị H3 (em họ bên chồng V3) ở khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ không có việc làm, V3 sử dụng tài khoản Facebook “Diệp Mai V4” gọi Messenger đến tài khoản Facebook “Khánh Huy” của chị H3 nói với chị H3 về công việc làm phụ bếp tại Thái Lan như G đã trao đổi, chị H3 đồng ý (trước đó, chị H3 đã được cấp hộ chiếu số số K0493432 cấp ngày 20/5/2022). Sau đó, V4 thông báo cho G biết, G đồng ý; V4 cho tài khoản Z“Min” của chị H3 vào nhóm Z để chị H3 gửi ảnh chụp Căn cước công dân, hộ chiếu lên nhóm.
Do muốn đi cùng chuyến bay với chị X, chị Kim A, anh D1 nên chị H3 nhờ V4 mua hộ vé máy bay. V4 truy cập vào trang Wed đặt mua vé máy bay cho chị H3 hết 4.767.000 đồng, sau đó V4 gửi ảnh chụp việc mua vé máy bay cho G và vào nhóm cho H3 biết (chị H3, chị Kim A, chị X và anh D1 đều đã chuyển trả tiền vé máy bay cho V4).
Khoảng 02 giờ ngày 12/3/2023, chị X, chị Kim A, anh D1 thuê xe ô tô taxi (không xác định biển số, hãng) đi từ xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; chị H3 đi từ nhà ở tỉnh Phú Thọ đến sân bay N. Để thuận tiện trao đổi, liên lạc, G lập nhóm Zalo khác gồm của G, chị X, chị Kim A, chị H3, anh D1 để hướng dẫn lộ trình đi đường và yêu cầu mọi người khi đến sân bay thì chụp ảnh xác nhận, khi làm thủ tục xuất cảnh đến Thái Lan nếu hỏi mục đích xuất cảnh thì khai báo đi du lịch, khi đến sân bay B, Thái Lan thì ra cửa D3, người đón cầm biển “VIP111”. Sau khi đến sân bay B, chị X, chị Kim A, chị H3, anh D1 được một người đàn ông đón lên xe ô tô đi đến nhà nghỉ ở M, Thái Lan (không xác định được địa chỉ), G bảo mọi người ngủ qua đêm, hôm sau sẽ có người đến đón. Đến khoảng 10 giờ ngày 13/3/2023, chị X, chị Kim A, chị H3, anh D1 được một người đi xe ô tô đến đón, đưa đến cửa khẩu ở Thái Lan (không xác định được cửa khẩu), có một người phụ nữ nói tiếng Việt Nam (không biết tên, địa chỉ) đến đón, cầm hộ chiếu của mọi người để làm thủ tục xuất, nhập cảnh. Sau khi qua cửa khẩu và nhận lại hộ chiếu, mọi người mới biết đến Myanmar và tiếp tục được xe ô tô khác đưa đi. Khi đến công ty, mọi người được ký hợp đồng làm việc 01 năm với công việc tìm kiếm, kết bạn với những người Việt Nam sử dụng mạng xã hội để giới thiệu vào nhóm Zalo cho bộ phận khác của công ty thực hiện lừa đảo, chiếm đoạt tài sản.
Do công việc không đúng theo thỏa thuận nên mọi người không muốn làm. Tháng 9/2023, anh D1 bỏ trốn khỏi công ty tự về Việt Nam; còn chị X, chị H3, chị Kim A thông tin về cho gia đình nộp tiền cho công ty do không thực hiện hợp đồng thì mới được về (gia đình chị X đã chuyển 60.000.000 đồng; gia đình chị H3 đã chuyển 150.000.000 đồng và gia đình chị Kim A đã chuyển 150.000.000 đồng).
Toàn bộ số tiền hưởng lợi từ việc đưa người sang Thái Lan theo thoả thuận G chưa thanh toán cho V4 do công ty chưa đưa tiền cho G.
Cáo trạng số 43/CT-VKSTQ-P2 ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Trần B về tội: Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 349 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Diệp Thị V về tội Môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài theo quy định tại khoản 1 Điều 349 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản cáo trạng đã truy tố.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Bình G phạm tội Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài. Bị cáo Diệp Thị V phạm tội môi giới người khác trốn đi nước ngoài.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 349; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Bình G từ 06 năm đến 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 09/11/2023.
Áp dụng khoản 1 Điều 349; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Diệp Thị V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Trần Bình G 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A2+, bên trong có 02 sim V6, nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án; tịch thu số tiền 200 USD tương đương 4.736.200 đồng do bị cáo Trần Bình G thu lời mà có.
Về hình phạt bổ sung phạt tiền: Xét điều kiện, hoàn cảnh các bị cáo không có việc làm ổn định, không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
Đối với Đỗ Văn H1 chết ngày 06/5/2023 tại M, tỉnh Tak, Thái Lan; Cảnh sát điều tra huyện M, tỉnh Tak, Thái Lan thụ lý điều tra theo pháp luật Thái Lan. Hoạt chết không phải trong quá trình Trần Bình G tổ chức cho H1 trốn đi nước ngoài lao động bất hợp pháp nên không có căn cứ để xử lý G về tội Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài, theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 349 Bộ luật Hình sự. Anh Đỗ Văn H1 đi ra nước ngoài lao động trái phép không tuân thủ quy định pháp luật Việt Nam. Luật sư, người đại diện hợp pháp của anh H1 yêu cầu bị cáo G có trách nhiệm thanh toán tiền công trong thời gian lao động tại nước ngoài và hỗ trợ tiền mai táng phí cho anh H1 không có cơ sở để xem xét, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này.
Đối với bị cáo Trần Bình G tự nguyện hứa hẹn với gia đình anh H1 sẽ hỗ trợ số tiền 50.000.000 đồng sau khi chấp hành xong bản án nếu có tiền; bị cáo Diệp Thị V xác định số tiền đã chi phí hỗ trợ cho 04 người gồm chị Trần Thị X, chị Leo Thị Kim O, chị Lục Thị H3, anh Nguyễn Văn D1 mỗi người 30.000.000 đồng, không yêu cầu những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án trên hoàn trả là ý chí tự nguyện của bị cáo, không trong nội dung vụ án này, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Bình G trình bày: Nhất trí với nội dung cáo trạng truy tố và nội dung bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang. Bản thân bị cáo Trần Bình G cũng là một nạn nhân, vào tháng 10/2022 được Diệp Văn T2 ở cùng thôn với bị cáo đưa sang nước ngoài trái phép và làm việc tại nước ngoài, khi ở nước ngoài bị cáo đã sử dụng tài khoản zalo kết nối với máy tính của công ty đăng tin, hướng dẫn một số công dân trong nước đi nước ngoài lao động trái phép, tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo bị đe dọa phải thực hiện (theo tài liệu tại BL 824 thể hiện nếu không liên hệ tuyển được người hoặc không làm theo sẽ bị dí dù cui điện). Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; tuy chưa có tiền để hỗ trợ cho gia đình anh Đỗ Văn H1 bị chết khi lao động trái phép tại nước ngoài một thời gian xong anh H1 tự ý bỏ trốn bị bắn chết, nhưng bị cáo đã tự nguyện nhận trách nhiệm sau khi chấp hành xong án phạt tù sẽ có trách nhiệm hỗ trợ gia đình anh H1 số tiền 50.000.000 đồng. Mặt khác gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là dân tộc thiểu số, bố mẹ ly hôn, con đẻ của bị cáo (cháu L2 sinh năm 2020) bị bệnh tim bẩm sinh. Do đó, ngoài tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, k khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị áp dụng Điều 50 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo Trần Bình G nhất trí với nội dung của Luật sư, người bào chữa cho bị cáo, gửi lời xin lỗi những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và gia đình mà bị cáo đã tổ chức đưa ra nước ngoài lao động trái phép, trong đó có gia đình anh Đỗ Văn H1 đã đi lao động trái phép từ tháng 11/2022, đến tháng 5/2023 anh H1 bỏ trốn khỏi công ty tại Myanmar bơi qua sông Đ, tỉnh Tak, Thái Lan bị tử nạn (do bị bắn chết). Từ việc bị cáo tổ chức cho anh H1 trốn ra nước ngoài lao động trái phép, sau đó anh H1 bỏ trốn, bị người nước ngoài bắn anh H1 chết, bị cáo xác định cũng có một phần lỗi, nên nhận trách nhiệm sẽ tự nguyện hỗ trợ một phần chi phí mai táng phí cho gia đình của anh H1 số tiền 50.000.000 đồng, do hiện nay bị cáo không có tiền, khi nào chấp hành án phạt tù xong, bị cáo lao động tích lũy có tiền thì sẽ hỗ trợ tiền cho gia đình của anh H1.
Bị cáo Diệp Thị V nhất trí với nội dung luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo nhận thức được việc làm là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với số tiền 120.000.000 đồng bị cáo đã tự nguyện hỗ trợ cho 04 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án (mỗi người 30.000.000 đồng) mà bị cáo đã giới thiệu, môi giới để bị cáo Trần Bình G tổ chức trốn ra nước ngoài lao động trái phép, khi ở nước ngoài 04 người là: Chị Trần Thị X, chị Leo Thị Kim O, chị Lục Thị H3, anh Nguyễn Văn D1 phải nộp tiền bảo lãnh, tiền phạt mới được trở về Việt Nam, chị tự nguyện hỗ trợ cho 04 người nêu trên, không yêu cầu các anh chị: Chị Trần Thị X, chị Leo Thị Kim O, chị Lục Thị H3, anh Nguyễn Văn D1 hoàn trả lại số tiền cho chị.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Đỗ Văn H1 trình bày: Nhất trí với bản cáo trạng và nội dung luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang về tội danh và hình phạt tù đề nghị áp dụng đối với bị cáo Trần Bình G. Bị cáo G là người tổ chức cho người khác (anh H1) trốn đi nước ngoài trái phép do vậy bị cáo phải có trách nhiệm hỗ trợ, bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn H1 do đã tin vào việc rủ rê lôi kéo của bị cáo để đi lao động nước ngoài trái phép. Anh H1 bị chết xuất phát từ việc rủ rê, tổ chức của bị cáo G nên bị cáo G phải có trách nhiệm bồi thường. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo G thanh toán cho người đại diện hợp pháp của anh H1 số tiền 140.000.000 đồng, trong đó tiền thu nhập theo hứa hẹn, thỏa thuận 18.000.000 đồng/tháng x 05 tháng = 90.000.000 đồng và tiền hỗ trợ mai táng phí 50.000.000 đồng.
Anh Đỗ Văn V1 người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn H1 trình bày: Em trai của anh là Đỗ Văn H1 được bị cáo Trần Bình G tổ chức trốn sang Thái Lan, rồi sau đó là sang Myanmar thì gia đình không biết. Sau khi đến Myan mar được một thời gian do vất vả nên có ý định bỏ trốn, trước khi H1 bỏ trốn khỏi công ty tại Myanmar có nhắn tin về cho anh biết và sau đó bị bắn chết tại Thái Lan. Sau khi H1 chết gia đình đã lo thủ tục đến Thái Lan để đưa thi thể của H1 về Việt Nam đưa về quê an táng, chi phí rất tốn kém. Anh nhất trí theo nội dung trình bày của Luật sư người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Trần Thị X nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang và ý kiến của bị cáo Diệp Thị V, không có ý kiến tham gia tranh luận.
Lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Leo Thị Kim O, chị Lục Thị H3, anh Nguyễn Văn D1 trong giai đoạn điều tra tại hồ sơ xác định: Anh Dũng, chị O, chị H3 được bị cáo Diệp Thị V giới thiệu địa điểm làm việc tại nước ngoài thông qua tài khoản mạng xã hội Zalo của bị cáo Trần Bình G, sau đó đã cung cấp thông tin cá nhân cho bị cáo V để bị cáo V chuyển thông tin đến bị cáo G. Sau đó được bị cáo Trần Bình G hướng dẫn đưa sang Thái Lan để làm phụ bếp với mức lương thỏa thuận là 26.000.000 đồng/tháng, được bố trí chỗ ăn nghỉ không mất tiền, nhưng sau khi sang Thái Lan thì mới biết là được chuyển sang Myanmar đưa vào làm công việc tại một Công ty lập các tài khoản ảo để lừa đảo người khác, sau đó các anh chị đã nhờ gia đình hỗ trợ nộp tiền phạt cho Công ty và tiền bảo lãnh để được trở về Việt Nam. Anh Dũng, chị O, chị H3 được bị cáo Diệp Thị V hỗ trợ mỗi người số tiền 30.000.000 đồng.
Kết thúc phần tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Bình G, Diệp Thị V đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, hành vi của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa không phát sinh thêm tình tiết mới. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 11/2022 đến tháng 3/2023, bị cáo Trần Bình G, thông qua mạng xã hội Zalo với tài khoản “A A Phong C1” và “Bi Phong” đã đăng bài viết tuyển nhân viên văn phòng và tuyển nhân viên phụ bếp nhà hàng, đã 02 lần tổ chức đưa 05 người nhập cảnh sang Thái Lan, sau đó đưa sang Myanmar lao động bất hợp pháp. Bị cáo Diệp Thị V, đã 01 lần môi giới để Trần Bình G tổ chức đưa 04 người nhập cảnh đến Thái Lan sau đó đưa sang Myanmar lao động bất hợp pháp. Cụ thể: Ngày 20/11/2022, Trần Bình G tổ chức đưa anh Đỗ Văn H1 sang Thái Lan rồi đưa sang Myanmar lao động bất hợp pháp, thu lời bất chính 200 USD (tương đương 4.736.200 đồng tháng 11/2022). Trong các ngày 09 và 12/3/2023, Diệp Thị V đã môi giới để Trần Bình G tổ chức đưa chị Trần Thị X, chị Leo Thị Kim A, anh Nguyễn Văn D1, chị Lục Thị H3 sang Thái Lan rồi đưa sang Myanmar lao động bất hợp pháp. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Trần Bình G về tội Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài theo điểm b khoản 2 Điều 349 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Diệp Thị V về tội Môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài theo khoản 1 Điều 349 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Đánh giá tính chất, vai trò, mức độ thực hiện hành vi phạm tội đối với các bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của N3, xâm phạm an ninh đối nội, đối ngoại của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh khu vực biên giới. Các bị cáo Trần Bình G, Diệp Thị V là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, do đó phải chịu trách nhiệm với hành vi phạm tội đã gây ra.
Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Bị cáo Trần Bình G là người rủ rê, dụ dỗ, đưa ra các thông tin không đúng đưa những người Việt Nam sang nước ngoài lao động bất hợp pháp, trực tiếp hướng dẫn cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trốn đi nước ngoài rời khỏi lãnh thổ Việt Nam nhập cảnh trái phép sang Thái Lan trái phép, là người giữ vai trò chính trong vụ án. Trong 02 lần tổ chức cho 05 người trốn đi nước ngoài trái phép, bị cáo được đối tượng Diệp Văn T2 thông báo cho Công ty N4 tại Myanmar (không xác định được tên cụ thể) thanh toán cho số tiền 200 USD (tương đương 4.736.200 đồng tiền Việt Nam).
Bị cáo Diệp Thị V thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là đồng phạm, khi thấy tài khoản mạng xã hội Zalo của Trần Bình G đăng bài tuyển dụng người Việt Nam sang lao động trái phép tại nước ngoài với mức tiền công cao, bị cáo đã môi giới, giới thiệu 04 người cho bị cáo G, làm trung gian tiếp nhận thông tin của 04 người có nhu cầu đi lao động trái phép, chuyển thông tin đến bị cáo G, hỗ trợ 04 người liên hệ đặt vé máy bay từ Việt Nam đến Thái Lan rồi chuyển thông tin cho bị cáo G. Để bị cáo G nắm thông tin của 04 người, sau đó bị cáo G đã tạo nhóm Zalo riêng của bị cáo G với 04 người và trực tiếp hướng dẫn quy trình tổ chức cho những người được bị cáo V giới thiệu trốn ra nước ngoài trái phép. Theo thỏa thuận giữa bị cáo G với bị cáo mỗi người bị cáo giới thiệu cho bị cáo G sẽ được G hứa trả công là 6.000.000 đồng/người, nhưng thực tế bị cáo chưa nhận được tiền theo thỏa thuận với bị cáo G. Bị cáo có vai trò thấp hơn bị cáo G trong vụ án.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Trần Bình G có nhân thân xấu, ngày 31/5/2022 bị Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng, phạt tiền 1.500.000 đồng, chưa chấp hành.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Bình G, Diệp Thị V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Diệp Thị V đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra trong quá trình xét xử cũng cần xem xét thêm các tình tiết khác trong vụ án như: Bị cáo G có điều kiện gia đình khó khăn, éo le, bố mẹ bị cáo ly hôn, có con đẻ Trần Linh L3 sinh năm 2020 bị bệnh tim bẩm sinh; bị cáo V sau khi phạm tội, 04 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được bị cáo G tổ chức đưa đi nước ngoài lao động trái phép phát hiện công việc không như bị cáo G hứa hẹn trước khi ra nước ngoài trái phép, bị cáo đã tự nguyện gửi tiền hỗ trợ cho 04 người mà bị cáo đã môi giới để trốn ra nước ngoài lao động trái phép mỗi người 30.000.000 đồng (tổng 120.000.000 đồng). Do vậy cũng cần cân nhắc, xem xét về lượng hình khi áp dụng hình phạt đối với các bị cáo trong vụ án.
[4] Về nội dung đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, ý kiến của Luật sư, người bào chữa cho bị cáo Trần Bình G; ý kiến của Luật sư và những những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc để quyết định các vấn đề cho phù hợp với nội dung vụ án và theo quy định của pháp luật.
[5] Căn cứ nhân thân, vai trò, mức độ thực hiện hành vi phạm tội và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, xét thấy cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để trừng phạt cũng như cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời để phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Xét thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly cáo Trần Bình G ra khỏi xã hội một thời gian. Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Bình G đề nghị áp dụng các điểm b, k khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để chấp nhận. Đối với bị cáo Diệp Thị V, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc cho hưởng án treo không nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn tại địa phương. Do đó Hội đồng xét xử quyết định áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cho hưởng án treo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đủ tính nghiêm minh, răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[6] Về xử lý vật chứng:
Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A2+ của bị cáo Trần Bình G. Xét thấy điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Đối với số tiền 200 USD (tương đương 4.736.200 đồng) bị cáo Trần Bình G hưởng lợi bất chính, nên cần tịch thu (truy thu) để sung ngân sách Nhà nước.
[7] Về hình phạt bổ sung:
Tại khoản 4 Điều 349 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy điều kiện, hoàn cảnh các bị cáo không có việc làm ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với các bị cáo.
[8] Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của Luật sư, người đại diện của người của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn H1 (anh Đỗ Văn V1) với số tiền 140.000.000 đồng, trong đó: Tiền công 5 tháng x 18.000.000 đồng/tháng là 90.000.000 đồng, hỗ trợ tiền mai táng phí 50.000.000 đồng. Xét thấy trong giao dịch việc tổ chức cho người khác trốn ra nước ngoài giữa bị cáo G với anh Đỗ Văn H1 không được pháp luật cho phép, giao dịch này vi phạm điều cấm của luật, anh Đỗ Văn H1 tự ý trốn đi lao động nước ngoài không được sự đồng ý của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là trái phép; là giao dịch vô hiệu, do đó không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch đó bị xác lập. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét về nội dung yêu cầu của Luật sư, người đại diện hợp pháp của anh Đỗ Văn H1. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo G đã bị xử lý về hình sự. Mặt khác, anh Đỗ Văn H1 bị chết tại nước ngoài không phải do trong quá trình bị cáo G tổ chức trốn đi nước ngoài trái phép, mà sau khi đã ra nước ngoài trái phép, lao động một thời gian sau đó anh H1 cùng một số trường hợp khác tự ý bỏ trốn, trên đường bị bắn chết tại Thái Lan (sự việc anh H1 bị chết tại Thái Lan đang được cơ quan chức năng Thái Lan xem xét, giải quyết theo quy định), do đó, không có cơ sở buộc bị cáo G có trách nhiệm hỗ trợ bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm (mai táng phí) như đề nghị của Luật sư và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn H1 yêu cầu.
Đối với bị cáo Trần Bình G tự nguyện hứa hẹn với gia đình anh Đỗ Văn H1 sẽ hỗ trợ số tiền 50.000.000 đồng sau khi chấp hành xong bản án nếu có tiền; bị cáo Diệp Thị V xác định số tiền đã chi phí hỗ trợ cho 04 người gồm chị Trần Thị X, chị Leo Thị Kim O, chị Lục Thị H3, anh Nguyễn Văn D1 mỗi người 30.000.000 đồng, không yêu cầu những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án trên hoàn trả là ý chí tự nguyện của bị cáo, không trong nội dung vụ án này, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang: Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Cơ quan Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, Luật sư và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[10] Ngoài ra, quá trình điều tra anh Nguyễn Minh H4, trú tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; chị Lý Thị C2 trú tại thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn tố giác Trần Bình G tổ chức đưa anh H4, chị C2 sang Myanmar lao động bất hợp pháp vào tháng 5 và tháng 6/2023. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh G đưa anh H4 và chị C2 sang Myanmar. Quá trình điều tra, G còn khai nhận tổ chức đưa 01 người có tên là N2, sinh năm 1998, trú tại Cần Thơ sang Myanmar lao động bất hợp pháp, do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể; Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T đã có Công văn số 319/ANĐT ngày 13/12/2023 truy tìm người trên toàn quốc nhưng không có thông tin về người nêu trên, nên không đủ cơ sở kết luận.
[11] Đối với Diệp Văn T2 có hành vi tổ chức cho Trần Bình G và một số người đến Myanmar lao động bất hợp pháp vào tháng 10/2022, xảy ra tại tỉnh Bắc Giang. Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T có Công văn số 192/ANĐT-Đ2 ngày 03/6/2023 chuyển thông tin, tài liệu liên quan đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B để xác minh, xử lý theo thẩm quyền.
[12] Đối với Đỗ Văn H1 chết ngày 06/5/2023 tại M, T, Thái Lan; Cảnh sát điều tra huyện M, tỉnh Tak, Thái Lan thụ lý điều tra theo pháp luật Thái Lan. Hoạt chết không phải trong quá trình Trần Bình G tổ chức cho H1 trốn đi nước ngoài lao động bất hợp pháp nên không có căn cứ để xử lý G về tội Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài, theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 349 Bộ luật Hình sự.
[13] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Trần Bình G, Diệp Thị V phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[14] Về quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Bình G phạm tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”. Bị cáo Diệp Thị V phạm tội “Môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài".
1. Về hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 349; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Bình G, 05 năm, 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 09/11/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 349; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Diệp Thị V, 02 năm, 06 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 05 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 14/8/2024.
Giao bị cáo Diệp Thị V cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Trong thời gian thử thách của án treo nếu bị cáo Diệp Thị V cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu (truy thu) của bị cáo Trần Bình G số tiền 4.736.200 đồng (Bốn triệu, bảy trăm ba mươi sáu nghìn, hai trăm đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
Khoản tiền truy thu kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo chậm thi hành thì còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên.
- Trả lại cho bị cáo Trần Bình G 01 điện thoại Remid A2+ được để trong 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ viết tay “Vụ 1383”, có hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, có chữ ký viết tay của Phạm Xuân H5 và Ngô Q1 ở vị trí đóng, mở bì, bên trong có 01 điện thoại Remid A2+ có số IMEI 1: 865189063280981, số IMEI 2: 865189063280999, bề mặt sim có các số 8984048000925308817 và 01 sim vietel bề mặt sim có các dãy số 8984048000917380370, nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T và Cục thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang lập ngày 15/7/2024).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Trần Bình G, Diệp Thị V mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo Trần Bình G, Diệp Thị V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Trần Thị X; người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn H1 (anh Đỗ Văn V1) có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 14/8/2024.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Chị Leo Thị Kim O, chị Lục Thị H3, anh Nguyễn Văn D1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phúc An Hoành |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Tăng Thị Dương Nguyễn Thị Tâm | Phúc An Hoành |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự sơ thẩm (tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài và môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài)
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài và Môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Bình G phạm tội Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài. Diệp Thị V phạm tội Môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài.
