TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 45/2024/HSST Ngày 14 - 5 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Huy Trụ
- Ông Vũ Hùng Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Vũ Hồng Anh - Thư ký tòa án Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thành T (tên gọi khác: không), sinh ngày 01/4/1988 tại tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú và chỗ ở: Tổ B, khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến H, sinh năm 1960 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1961; có vợ: Tạ Thị Mai H2 và 01 con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: 04 (Bản án số 128/2005/HSST ngày 27/7/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Thành T 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội “Cưỡng đoạt tài sản” (Tài sản bị cưỡng đoạt trị giá 32.000 đồng). T chưa chấp hành xong hình phạt chính của bản án. Ngày 15/01/2005 đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm này và phần trách nhiệm dân sự các bị hại đã cho bị cáo số tiền phải bồi thường nên không yêu cầu thi hành án; Bản án số 145/2006/HSST ngày 27/7/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Thành T 9 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” (Tài sản bị cưỡng đoạt trị giá 1.360.000 đồng) tổng hợp với bản án số 128/2005/HSST ngày 27/7/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ buộc T phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2006. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/4/2008; thi hành xong khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm và thi hành xong khoản tiền truy thu xung công số tiền 125.000 đồng vào ngày 06/5/2011; Bản án số 269/2009/HSST ngày 21/09/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt bị cáo 30 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (Tài sản chiếm đoạt trị giá 12.430.000 đồng). Đã chấp hành xong hình phạt tù; thi hành xong khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm ngày 21/09/2009; Bản án số 169/2012/HSST ngày 24/07/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt bị cáo 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/9/2019; thi hành xong khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm ngày 24/07/2012 và thi hành xong khoản tiền truy thu xung quỹ nhà nước số tiền 100.000 đồng ngày 08/01/2014). Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/01/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt);
- Bùi Thị X (tên gọi khác: Không), sinh năm 1993 tại tỉnh Phú Thọ; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ B, khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: Tổ 4a, khu H, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn L (đã chết) và bà Đỗ Thị H3, sinh năm 1962; chồng: chưa có và 02 con: con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2024 đến ngày 09/01/2024; Hiện nay bị can đang tại ngoại và bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đình C, sinh năm 2000; Trú tại: Tổ D, khu H, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 40 phút ngày 05/01/2024 tại tổ B, khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ Công tác của Đội Cảnh sát hình sự tội phạm về ma túy – Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ thì phát hiện bị cáo T có biểu hiện vi phạm pháp luật. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, bị cáo tự khai tên là Nguyễn Thành T và tự giác lấy trong túi quần phía trước đang mặc 01 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, nên trong có 07 đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu, bên trong cả 07 đoạn ống nhựa đều có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác. Bị cáo khai đây là ma túy đá, bị cáo tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo, tạm giữ niêm phong túi nilon có 07 đoạn ống nhựa trên, 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu vàng kèm sim số 0963.272.131 và 200.000 đồng.
Cùng ngày 05/01/2024, Công an thành phố V tiến hành xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với bị cáo T. Kết quả: Bị cáo dương tính với chất ma tuý. Kết luận: Bị cáo có sử dụng ma tuý tại thời điểm xét nghiệm.
Về nguồn gốc ma tuý bị thu giữ khi bắt quả tang, bị cáo khai nhận: Khoảng 1 giờ 00 ngày 01/01/2024 bị cáo một mình đi xuống khu vực gần bến xe M, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây, bị cáo gặp một người đàn ông giới thiệu tên là C1 khoảng 40 tuổi, bị cáo hỏi và mua được của C1 01 túi ma túy đá có đặc điểm là túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, bên trong có chứa chất rắn, dạng tinh thể màu trắng với giá 2.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo cầm gói ma túy đá mua được và bắt xe khách về về nhà. Khi về đến nhà, bị cáo chia nhỏ thành 10 phần và cho vào 10 đoạn ống nhựa có đặc điểm: 01 đoạn ống nhựa màu xanh và 09 đoạn ống nhựa màu hồng đều được hàn kín hai đầu. Bị cáo lấy 01 đoạn ống nhựa màu hồng có chứa ma túy đá sử dụng hết cho bản thân bằng hình thức hít trực tiếp vào cơ thể. Còn chín 09 đoạn ống nhựa còn lại bị cáo đúc vào 01 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ rồi cất giấu trong người để sử dụng sau. Đến khoảng 09 giờ 00 ngày 05/01/2024, bị cáo gọi điện thoại qua ứng dụng M cho bị cáo X (bị cáo X là bạn quen biết với bị cáo) bảo bị cáo X sang nhà bị cáo cho một ít ma túy đá để sử dụng, bị cáo X đồng ý. Khi bị cáo X đến, bị cáo đưa bị cáo X 01 đoạn ống nhựa màu xanh bên trong có chứa ma túy đá. Bị cáo X cầm đoạn ống nhựa trên rồi đi đâu bị cáo không biết. Bị cáo ở nhà lấy 01 đoạn ống nhựa màu hồng có chứa ma túy đá sử dụng cho bản thân, phần ma túy còn lại T cất giấu trong người. Đến khoảng 15 giờ 30 cùng ngày, bị cáo mang theo số ma túy còn lại rồi đi sang nhà bạn chơi, khi T ra khỏi cổng nhà và đi được một đoạn thì có tổ công tác Công an thành phố V phát hiện kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, tài sản như đã nêu trên.
Sau khi được bị cáo T cho ma túy, Bị cáo X đi về nhà. Tại nhà bị cáo X lấy một phần ma tuý đá trong ống nhựa ra sử dụng cho bản thân bằng hình thức hút trực tiếp vào cơ thể, phần ma tuý đá còn lại bị cáo X chia thành 02 phần, một phần bị cáo cho vào một đoạn ống nhựa màu đỏ, 01 phần cho vào đoạn ống nhựa màu trắng rồi hàn kín 02 đầu ống nhựa. Còn đoạn ống nhựa màu xanh bị cáo X vứt bỏ. Đến khoảng hơn 10 giờ cùng ngày có Nguyễn Đình C sinh năm 2000, HKTT: xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Công hiện ở trọ gần nhà X thuộc khu H, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ gọi điện cho bị cáo X qua ứng dụng zalo có tên nick là “Nguyễn C” hỏi mua của X 800.000 đồng tiền ma tuý đá. Bị cáo X đồng ý và hẹn C ở khu vực dốc D thuộc phường N, thành phố V để trao đổi mua bán ma tuý. Bị cáo X đi nhờ xe của người đi đường không quen biết đến chỗ hẹn C. Tại đây, C đưa bị cáo X 800.000 đồng, bị cáo X cầm tiền và bảo C đứng chờ. Bị cáo đi về nhà lấy 01 đoạn ống nhựa màu đỏ có chứa ma tuý đá đi đến nhà trọ của C, để đoạn ống nhựa trên ở cửa phòng trọ của C. Sau đó bị cáo X đi về nhà rồi gọi lại cho C qua ứng dụng zalo nói với C để ma tuý ở cửa phòng trọ của C, bảo C về đó lấy. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày bị cáo X mang theo đoạn ống nhựa màu trắng chứa ma tuý đá còn lại đi ra khu vực đường N kéo dài thuộc phường N, thành phố V mục đích xem ai có nhu cầu hỏi mua ma tuý thì bị cáo X sẽ bán với giá 1.000.000 đồng, nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an phường N, thành phố V kiểm tra, lập biên bản và thu giữ vật chứng là đoạn ống nhựa màu trắng chứa ma tuý nêu trên. Sau khi mua được ma túy của X, C đã đem vào phòng trọ và sử dụng hết cho bản thân.
Cùng ngày 05/01/2024, Công an phường N, thành phố V đã tiến hành xét nghiệm ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với bị cáo Bùi Thi X1 và Nguyễn Đình C. Kết quả của bị cáo X1 và C đều là dương tính (kết luận X1 và C có sử dụng ma tuý). Cùng ngày Công an phường N đã chuyển hồ sơ vụ việc và đối tượng đến cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố V để giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Thị X tại tổ D, khu H, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá.
Tại bản kết luận giám định số 39 ngày 08 tháng 1 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận đối với số ma tuý thu giữ của bị cáo X:
“Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 01 đoạn ống nhựa gửi đến giảm định là ma tuý, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,246 gam.
*Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
Hoàn lại đối tượng giám định 0,181 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 40/KLGĐ ngày 08/1/2024 của Phòng K - Công an tỉnh kết luận đối với số ma tuý thu giữ của bị cáo T:
“Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 07 đoạn ống nhựa gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,960 gam.
* Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.”
Hoàn lại đối tượng giám định 0,720 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong theo quy định.
Cơ quan điều tra tiến hành đối chất giữa bị cáo T và bị cáo X, bị cáo T và bị cáo X đều thừa nhận bị cáo T có cho bị cáo X 01 gói ma tuý để sử dụng như trên. Bị cáo X thừa nhận việc lấy một phần ma tuý của bị cáo T cho để bán như đã nêu trên và bị cáo T không biết việc bán ma túy này của bị X .
Cơ quan điều tra tiến hành đối chất giữa X và Nguyễn Đình C, cả hai đều thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma tuý với nhau vào ngày 05/1/2024 như trên.
Quá trình điều tra, bị cáo T và X đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 48/CT-VKSVT ngày 12/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và bị cáo Bùi Thị X về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo đều đồng ý với Bản kết luận giám định số 39 ngày 08/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P và bản kết luận giám định số 40/KLGĐ ngày 08/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo T từ 27 (hai mươi bảy) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy".
Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo X từ 30 (ba mươi) tháng đến 33 (ba mươi ba) tháng tháng tù. Được khấu trừ thời gian tạm giữ, từ ngày 05/01/2024 đến ngày 09/01/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo, người tham gia tố tụng khác đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 05/01/2024, tại tổ B, khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ bị cáo T có hành vi tàng trữ 1,206 gam ma túy (gồm khối 0.960 gam ma túy khi bị bắt quả tang và 0.246 gam ma túy thu giữ của bị cáo X) để sử dụng cá nhân. Do vậy, hành vi của bị cáo thỏa mãn điều kiện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự.
Khoảng 10 giờ hơn bị cáo X có hành vi bán 01 đoạn ống nhựa mà đỏ có chứa ma túy cho Nguyễn Đình C sinh năm 2000, HKTT: xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Công hiện ở trọ gần nhà X thuộc khu H, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ với giá 800.000 đồng. Do số ma túy này C đã sử dụng hết nên không không xác định được khối lượng. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 05/01/2024, tại khu vực đường N kéo dài thuộc phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ bị cáo X có hành vi tàng trữ trái phép 0,246 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để bán. Do vậy, chỉ xác định bị cáo X có hành vi mua bán trái phép chất ma túy có khối lượng 0,246 gam ma túy loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo thỏa mãn điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ Luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các loại thuốc gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội và tính mạng, sức khỏe con người, sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc. Các bị cáo đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết được hành vi phạm tội của mình là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thành T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo Bùi Thị X đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Xem xét nhân thân, tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân xấu. Bị cáo X có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, Các bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo có 01 tình giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng tội bị cáo phạm là tội nghiêm trọng, xâm phạm chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các loại thuốc gây nghiện. Ma túy làm hủy hoại sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc và đây là nguyên nhân làm tệ nạn xã hội gia tăng, gây mất an toàn xã hội. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù mới đủ để răn đe, giáo dụng các bị cáo, đồng thời để phòng ngừa tện nạn xã hội. Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét cũng cần căn cứ vào nhân thân và hành vi phạm tội để áp dụng hình phạt đối với từng bị cáo.
Về hình phạt bổ sung:
Do bị cáo X là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì và đang nuôi con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Do bị cáo T là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nhưng đang bị tạm giữ số tiền 200.000 đồng, đây là tiền do bị cáo lao động mà có nên cần áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo là tịch thu sung sung nhà nước số tiền này là phù hợp.
Về vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp:
Đối với số tiền 800.000đ bị cáo X đã bán ma túy cho C mà có nhưng đã tiêu sài cá nhân hết: Đây là số tiền bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước là phù hợp.
Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo T: Đây là số tiền của bị cáo lao động hợp pháp mà có nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã cũ số IMEI 352895119147137 cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo T: Là vật chứng của vụ án. Do đây là điện thoại của bị cáo T và bị cáo dùng liên lạc với bị cáo X để tặng cho ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ số IMEI 355375084828109 cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo X: Là vật chứng của vụ án. Do đây là điện thoại của bị cáo X và bị cáo dùng liên lạc với bị cáo T để nhận ma túy, liên lạc với bị cáo C để bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 sim số 0963272131 cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo T; 01 sim số 0962101994 cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo X: Là vật chứng của vụ án. Đây là sim số của bị cáo T và X, các bị cáo dùng sim số này của mình để liên lạc cho, nhận và bán ma túy nên cần tịch thu. Sim số này không có giá trị, không có giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 01 bì niêm phong số 39/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả mẫu vật sau giám định bên trong có chứa 0,181 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng thu của bị cáo X; 01 bì niêm phong số 40/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả mâu vật sau giám định bên trong có chứa 0,720 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng thu của bị cáo T: Đây là vật chứng của vụ án, là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với chiếc điện thoại C dùng để liên lạc mua ma túy với bị cáo X: Do điện thoại này đã bị hỏng và C vứt ở đâu không nhớ rõ, cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ được nên không xem xét giải quyết là phù hợp.
Đối với dụng cụ sử dụng ma túy thu giữ của bị cáo X: Đây không phải vật chứng vụ án nhưng đây là dụng cụ để bị cáo sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với hành vi mua ma túy của C: Do khi mua được ma túy C đã sử dụng hết nên cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ được số ma túy này. Vì không xác được khối lượng ma túy nên cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với C là phù hợp.
Đối với người đàn ông tên C1 đã bán ma túy cho bị cáo T ngày 01/01/2024: Do bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không xác định được. Vì vậy, cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét giải quyết trong cùng vụ án này là phù hợp.
[3] Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về căn cứ pháp luật, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí là phù hợp. Đối hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đúng so với hành vi phạm tội, nhân thân và thái độ của bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024
Căn cứ khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Bùi Thị X 33 (ba mươi ba) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/01/2024 đến ngày 09/01/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Bùi Thị X đi chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Bùi Thị X. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng của Nguyễn Thành T.
(Số tiền 200.000 đồng trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì theo biên lai thu tiền số 0004637 ngày 22/04/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì)
[2]. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã cũ số IMEI 352895119147137 của bị cáo Nguyễn Thành T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ số IMEI 355375084828109 của bị cáo Bùi Thị X.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 sim số 0963272131 của bị cáo T; 01 sim số 0962101994 của bị cáo X; 01 bì niêm phong số 39/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả mẫu vật sau giám định bên trong có chứa 0,181 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng thu giữ của bị cáo X; 01 bì niêm phong số 40/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả mẫu vật sau giám định bên trong có chứa 0,720 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng thu của bị cáo T
(Vật chứng đã được Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố V bàn giao cho cơ quan Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2024).
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 800.000 đồng của bị cáo Bùi Thị X.
[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thành T và bị cáo Bùi Thị X, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 45/2024/HSST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 45/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo Bùi Thị X phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
