TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/DS-ST Ngày 13/9/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Ngân
Ông Lâm Mây
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Như Mai Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 68/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXX- ST ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng N.
Địa chỉ: Số B, L, Quận B, Tp.Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng giám đốc
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Văn S – Phó giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L - T.
Có mặt.
* Bị đơn: Ông Trương Văn H, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 20 tháng 4 năm 2022, Ngân hàng N (Ngân hàng A) - Chi nhánh huyện L - T thoả thuận và ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 52.04/2022 TSTC và Hợp đồng tín dụng số 5604LAV202201455 với ông Trương Văn H, sinh năm 1976, địa chỉ ấp T, L, huyện L, tỉnh Bình Phước cụ thể như sau; số tiền vay là: 1.000.000.000đồng.
Lãi suất vay 10.5%/ năm ( lãi suất điều chỉnh )
Mục đích sử dụng vốn vay: Chăn nuôi bò, chăm sóc cao su
Phương thức cho vay: Cho vay từng lần
Thời hạn vay là: 24 tháng, ngày nhận tiền vay 20 tháng 4 năm 2022;
Kỳ hạn trả nợ gốc vào ngày: 20/4/2024
Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất số DĐ849966 do UBND huyện L cấp ngày 29/3/2022, số vào sổ cấp GCN CH04229, thửa số 401, tờ bản đồ số TĐ 13-2022; địa chỉ thửa đất: ấp T, L, huyện L, tỉnh Bình Phước, diện tích 30.321m², mục đích sử dụng: Đất trồng đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng đến 01/10/2063; nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất;
Đến hạn thanh toán tiền lãi ông Trương Văn H không thực hiện việc thanh toán theo Hợp đồng đã ký, phía Ngân hàng đã đôn đốc nhiều lần và yêu cầu ông Trương Văn H phải trả nợ đúng hạn nhưng ông Trương Văn H vẫn không thực hiện, số tiền vay theo Hợp đồng tín dụng trên đã bị chuyển sang nợ quá hạn.
Đến ngày 29/8/2024 ông H đã trả cho Ngân hàng A số tiền là 49.081.003đồng. Ngân hàng đã khấu trừ số tiền này vào tiền lãi mà ông H chưa thanh toán cho Ngân hàng từ ngày 20 tháng 4 năm 2022 đến ngày 03/10/2022.
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Trương Văn H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng A (chi nhánh huyện L- T) số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 5604LAV202201455, tính từ ngày 04/10/2022 đến ngày 12 tháng 9 năm 2024 là: 1.226.562.243đồng, trong đó:
Nợ gốc: 1.000.000.0xxxđồng
Nợ lãi trong hạn + lãi quá hạn: 226.562.243đồng (tính từ ngày 04/10/2022 đến ngày 12/9/2024)
- Buộc ông Trương Văn H phải tiếp tục trả lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 5604LAV202201455, kể từ ngày 13/9/2024 cho đến ngày ông Trương Văn H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng A;
- Yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng thế chấp tài sản số 52.04/2022 TSTC ngày 20/4/2022 được ký giữa nguyên đơn Ngân hàng A và bị đơn ông Trương Văn H là hợp pháp để đảm bảo việc thu hồi nợ theo quy định của pháp luật;
Quá trình giải quyết vụ án, biên bản lấy lời khai bị đơn ông Trương Văn H trình bày:
Thống nhất toàn bộ nội dung đơn khởi kiện của Ngân hàng A về việc còn nợ Ngân hàng A số tiền gốc là 1.000.000.000đồng, tiền lãi trong hạn và quá hạn tính đến nay theo ngân hàng tính. Nay ông Trương Văn H hoàn toàn đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của ngân hàng, đồng ý trả gốc và lãi theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và các chi phí phát sinh, trường hợp không trả được số tiền gốc và lãi trên cho Ngân hàng thì ông Trương Văn H đồng ý để Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản đã ký kết với ngân hàng. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất số DĐ849966 do UBND huyện L cấp ngày 29/3/2022, số vào sổ cấp GCN CH04229, thửa số 401, tờ bản đồ số TĐ 13-2022; địa chỉ thửa đất: ấp T, L, huyện L, tỉnh Bình Phước, diện tích 30.321m².
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh không có kiến nghị gì về tố tụng.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội Đồng xét xử:
Căn cứ các Điều 317, 320, 323, 303, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 90, 91, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A:
Buộc ông Trương Văn H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng A (chi nhánh huyện L - T) số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 5604LAV202201455, tính từ ngày 04/10/2022 đến ngày 12/9/2024 là: 1.226.562.243đồng, trong đó:
Nợ gốc: 1.000.000.0xxxđồng
Nợ lãi trong hạn + lãi quá hạn: 226.562.243đồng (tính từ ngày 04/10/2022 đến ngày 12/9/2024).
Buộc ông Trương Văn H phải tiếp tục trả lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 5604LAV202201455, kể từ ngày 13/9/2024 cho đến ngày ông Trương Văn H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng A;
Công nhận Hợp đồng thế chấp tài sản số 52.04/2022 TSTC ngày 20/4/2022 giữa nguyên đơn Ngân hàng A và bị đơn ông Trương Văn H là hợp pháp để đảm bảo việc thu hồi nợ theo quy định của pháp luật;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng A có đơn khởi kiện yêu cầu ông Trương Văn H trả số tiền vay theo hợp đồng tín dụng và yêu cầu công nhận hợp đồng thế chấp tài sản nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản”. Ông Trương Văn H cư trú tại xã L, huyện L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn đề nghị vắng mặt, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
Các đương sự đều thừa nhận giữa Ngân hàng A (Chi nhánh huyện L - T) có cho ông Trương Văn H vay số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 5604LAV202201455; số tiền vay là: 1.000.000.000đồng.
Lãi suất vay 10.5%/ năm ( lãi suất điều chỉnh )
Mục đích sử dụng vốn vay: Chăn nuôi bò, chăm sóc cao su
Phương thức cho vay: Cho vay từng lần
Thời hạn vay là: 24 tháng, ngày nhận tiền vay 20 tháng 4 năm 2022;
Kỳ hạn trả nợ vào ngày: 20/4/2024
Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất số DĐ849966 do UBND huyện L cấp ngày 29/3/2022, số vào sổ cấp GCN CH04229, thửa số 401, tờ bản đồ số TĐ 13-2022; địa chỉ thửa đất ấp T, L, huyện L, tỉnh Bình Phước, diện tích 30.321m² mục đích sử dụng: Đất trồng đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng đến 01/10/2063; nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất;
Đến hạn thanh toán tiền gốc và lãi ông Trương Văn H không thực hiện việc thanh toán theo Hợp đồng đã ký, phía Ngân hàng đã đôn đốc nhiều lần và yêu cầu ông Trương Văn H phải trả nợ đúng hạn nhưng ông Trương Văn H vẫn không thực hiện.
Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng A yêu cầu ông Trương Văn H trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Phía bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án cũng thống nhất toàn bộ nội dung khởi kiện và cho rằng do khó khăn trong làm
ăn nên chưa trả cho Ngân hàng A, nay đồng ý trả nợ theo yêu cầu khởi kiện Ngân hàng.
[3] Do ông Trương Văn H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu ông Trương Văn H trả số tiền còn nợ là có căn cứ chấp nhận. Nay ông Trương Văn H cũng đồng ý trả cho Ngân hàng A (chi nhánh huyện L - T). Số tiền tính theo Hợp đồng tín dụng số 5604LAV202201455, tính từ ngày 04/10/2022 đến ngày 12 tháng 9 năm 2024 là: 1.226.562.243đồng, trong đó:
Nợ gốc: 1.000.000.0xxxđồng
Nợ lãi trong hạn + lãi quá hạn: 226.562.243đồng (tính từ ngày 04/10/2022 đến ngày 12/9/2024).
[4] Về yêu cầu buộc ông Trương Văn H phải tiếp tục trả lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 5604LAV202201455, kể từ ngày 13/9/2024 cho đến ngày ông Trương Văn H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng A là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật;
[5] Về yêu cầu công nhận hợp đồng thế chấp: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng A yêu cầu xem xét công nhận Hợp đồng thế chấp tài sản số 52.04/2022 TSTC ngày 20/4/2022 đã ký kết giữa ngân hàng và ông H. Theo hợp đồng thế chấp thì ông Trương Văn H đã thế chấp quyền sử dụng đất cho Ngân hàng A. Về mặt hình thức thì hợp đồng thế chấp tuân thủ quy định pháp luật. Về mặt nội dung thì việc thế chấp tài sản của ông H là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc công nhận hợp đồng thế chấp tài sản số 52.04/2022 TSTC ngày 20/4/2022 ký giữa nguyên đơn Ngân hàng A và bị đơn ông Trương Văn H là hợp pháp để đảm bảo việc thu hồi nợ theo quy định của pháp luật;
[6] Về chi phí tố tụng: Ông Trương Văn H chịu 3.000.000đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng A (chi nhánh huyện L - T) đã nộp tạm ứng số tiền trên nên ông Trương Văn H phải trả lại cho Ngân hàng A số tiền 3.000.000đồng.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 1 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 317, 320, 323, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Các Điều 90, 91, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
Buộc ông Trương Văn H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N (chi nhánh huyện L - T) số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo Hợp đồng tín dụng số 5604LAV202201455 là: 1.226.562.243đồng. Trong đó:
Nợ gốc: 1.000.000.0xxxđồng
Nợ lãi trong hạn + lãi quá hạn: 226.562.243đồng (tính từ ngày 04/10/2022 đến ngày 12/9/2024).
Buộc ông Trương Văn H phải tiếp tục trả lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 5604LAV202201455, kể từ ngày 13/9/2024 cho đến ngày ông Trương Văn H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng A;
Công nhận Hợp đồng thế chấp tài sản số 52.04/2022 TSTC ngày 20/4/2022 giữa nguyên đơn Ngân hàng N (chi nhánh huyện L - T) và bị đơn ông Trương Văn H là hợp pháp để đảm bảo việc thu hồi nợ theo quy định của pháp luật;
- Về án phí:
- Ông Trương Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 48.796.867đồng.
- Ngân hàng N (chi nhánh huyện L - T) không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước trả lại cho Ngân hàng N (chi nhánh huyện L - T) số tiền 24.631.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006194 ngày 08/4/2024.
- Về chi phí tố tụng: Ông Trương Văn H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là: 3.000.000đồng. Số tiền này Ngân hàng N (chi nhánh huyện L - T) đã nộp tạm ứng. Vì vậy, ông Trương Văn H phải trả cho Ngân hàng N (chi nhánh huyện L - T) số tiền 3.000.000đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày 13/9/2024, bên có nghĩa vụ thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên có nghĩa vụ thi hành án phải tiếp tục thanh toán
cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Quyết |
Bản án số 45/2024/DS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 45/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông H trả tiền cho Ngân hàng N1
