|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13-8-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Hoa Vinh;
- Ông Nguyễn Văn Thả.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đại Phụng – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 105/2024/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1972; nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Bị đơn: Chị Phan Thị L, sinh năm 1976; nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 29 tháng 02 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Văn Q trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị L sống chung với nhau từ năm 2001, nhưng đến năm 2007 mới đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn với nhau, bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ khoảng tháng 04 năm 2023. Nguyên nhân mâu thuẫn liên quan đến chuyện tiền bạc, chị L làm ăn thất bại, nợ nần phải bán nhà để trả nợ. Và có vài lần gây gỗ cải nhau thì chị L có điện thoại cho Công an thị trấn đến giải quyết. Anh và chị L ly thân từ tháng 11 năm 2023 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu được ly hôn với chị L.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Hữu T, sinh ngày 24-10-2002 và Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 07-5-2012. Hiện tại 02 cháu đang sống chung với anh. Cháu T đã thành niên (đủ 18 tuổi) nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết. Riêng cháu Nguyễn Thị Kim N thì anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc và giáo dục. Anh không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn chị Phan Thị L nhưng chị Phan Thị L vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành làm việc lấy lời khai, hòa giải theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Anh Nguyễn Văn Q vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Chị Phan Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã tuân thủ theo trình tự thủ tục, thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với chị Phan Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vắng mặt chị Phan Thị L là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- - Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn Q đối với chị Phan Thị L.
- - Về nuôi con chung: Ghi nhận 01 con chung tên Nguyễn Hữu T, sinh ngày 24-10-2002 đã thành niên (đủ 18 tuổi) nên anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết. Giao 01 con chung tên Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 07-5-2012 cho anh Nguyễn Văn Q được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu chị Phan Thị L cấp dưỡng nuôi con chung.
- Sau khi ly hôn, chị Phan Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về án phí: Anh Nguyễn Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Văn Q là nguyên đơn, trong vụ án, vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị vắng mặt. Chị Phan Thị L là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn Q và chị Phan Thị L.
[2] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Q và chị Phan Thị L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2001 và có đăng ký kết hôn ngày 04-9-2007 theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nhận định đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Q thấy rằng: Anh Nguyễn Văn Q trình bày từ tháng 04 năm 2023, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên gây gỗ, cải nhau do chị L nợ nần tiền bạc, phải bán nhà đất để phân chia tài sản cho chị L có tiền trả nợ. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 11 năm 2023 cho đến nay, trong suốt thời gian ly thân, vợ chồng cũng không có tiếng nói chung để cùng giải quyết mâu thuẫn và cũng không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm. Lời trình bày của anh Q phù hợp kết quả xác minh tại địa phương thể hiện giữa anh Q và chị L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, thậm chí còn đánh nhau và chính quyền địa phương có đến nhà để can ngăn, giản hoà cho vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên anh Q yêu cầu ly hôn với chị L là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Anh Nguyễn Văn Q và chị Phan Thị L có 02 con chung tên Nguyễn Hữu T, sinh ngày 24-10-2002 và Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 07-5-2012. Hiện tại cháu Nguyễn Hữu T đã trưởng thành (đủ 18 tuổi), anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Riêng cháu Nguyễn Thị Kim N từ khi anh Nguyễn Văn Q và chị Phan Thị L ly thân thì cháu Nguyễn Thị Kim N sống chung với anh Nguyễn Văn Q. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Kim N, không yêu cầu chị Phan Thị L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, anh Nguyễn Văn Q là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Kim N ổn định cho đến nay và theo nguyện vọng của cháu Nguyễn Thị Kim N muốn sống với anh Nguyễn Văn Q. Do đó, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của con chung như được học tập, về thể chất, trí tuệ và đạo đức..v.v, nên cần giao con chung tên Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 07-5-2012 cho anh Nguyễn Văn Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu chị Phan Thị L cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, chị Phan Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về án phí: Anh Nguyễn Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 9, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn Q và chị Phan Thị L.
- Về nuôi con chung: Ghi nhận 01 con chung tên Nguyễn Hữu T, sinh ngày 24-10-2002 đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) nên anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết. Giao 01 con chung tên Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 07-5-2012 cho anh Nguyễn Văn Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu chị Phan Thị L cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, chị Phan Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005939 ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; anh Nguyễn Văn Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn Q và chị Phan Thị L vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Quyên |
Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 13/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Q ly hôn với Phan Thị L
