TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45A/2024/DS-ST
Ngày 12 tháng 7 năm 2024
V/v: “Kiện đòi tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Kiên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Vượng;
- Ông Nguyễn Văn Tư.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 204/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 62/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1979; nơi đăng ký hộ khẩu: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi ở hiện nay: Xóm A, thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn M, sinh năm 1981; địa chỉ: Số nhà C, ngõ G, đường V, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là bà Phạm Thị T xác định:
Do có mối quan hệ quen biết, nên ngày 26/9/2011, bà có vay hộ ông Nguyễn Tuấn M số tiền 80.000.000 đồng hẹn đến ngày 31/12/2011 thì thanh toán. Đến hạn bà đòi nhiều lần nhưng ông Nguyễn Tuấn M vẫn không thanh toán. Bà khởi kiện đề nghị buộc ông Nguyễn Tuấn M phải trả cho bà số tiền
80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) và lãi suất 1%/tháng là 105.000.000 đồng. Ngày 21/5/2024 bà Phạm Thị T có đơn đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện đòi số tiền lãi suất là 80.000.000 đồng, do thời hiệu khởi kiện đối với việc vay tài sản không còn.
Ông Nguyễn Tuấn M có lời khai xác định:
Trước đây, ông làm việc ở huyện L, quen biết bà Phạm Thị T và có vay của bà Phạm Thị T số tiền khoảng 40.000.000 đồng hoặc 50.000.000 đồng, nhưng đã trả lại cho bà Phạm Thị T đầy đủ. Đối với Giấy vay tiền ghi ngày 26/9/2011 là do trước đây ông có viết giấy vay với bà Phạm Thị T là cả số tiền vay gốc và lãi suất. Tuy nhiên, ông đã trả hết số tiền 80.000.000 đồng của giấy vay này. Thời gian trả cụ thể thì ông không nhớ, khi trả không viết giấy tờ ký nhận, khi trả cũng không có ai chứng kiến. Nay, bà Phạm Thị T khởi kiện đòi số tiền 80.000.000 đồng này thì ông không đồng ý.
Tại phiên tòa, bà Phạm Thị T giữ nguyên yêu cầu nêu trên.
Phần tranh luận: Không.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến, về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 244, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T đối với ông Nguyễn Tuấn M.
- - Buộc ông Nguyễn Tuấn M phải trả lại cho bà Phạm Thị T số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).
- - Ông Nguyễn Tuấn M phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Phạm Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại đơn khởi kiện bà Phạm Thị T yêu cầu ông Nguyễn Tuấn M thanh toán tiền vay và lãi suất phát sinh. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Tuy nhiên, ngày 21/5/2024, bà Phạm Thị T có đơn thay đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện về phần lãi suất 105.000.000 đồng, do xác định thời hiệu khởi kiện về hợp đồng vay tài sản không còn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vụ án với quan hệ tranh chấp là “Kiện đòi tài sản” theo quy định tại Điều 26; Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự:
Ông Nguyễn Tuấn M đã được Toà án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt.
[3] Xét thời hiệu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện:
3.1. Về thời hiệu khởi kiện: Yêu cầu khởi kiện về đòi tài sản, nên không áp dụng thời hiệu theo khoản 2 Điều 155 của Bộ luật dân sự.
3.2. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T, Hội đồng xét xử đánh giá như sau: Tại Giấy vay tiền ghi ngày 26/9/2011 ký kết giữa bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Tuấn Minh xác đ ông Nguyễn Tuấn M có vay của bà Phạm Thị T số tiền 80.000.000 đồng. Tại lời khai của ông Nguyễn Tuấn Minh xác đ “Đối với Giấy vay tiền ghi ngày 26/9/2011 là do trước đây ông có viết giấy vay với bà Phạm Thị T là cả số tiền vay gốc và lãi suất”. Ông Nguyễn Tuấn Minh xác đ đã thanh toán cho bà Phạm Thị T, nhưng ông không có chứng cứ chứng minh. Như vậy, có đủ căn cứ khẳng định ông Nguyễn Tuấn M đã vay bà Phạm Thị T số tiền 80.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 26/9/2011, nhưng chưa thanh toán cho bà Phạm Thị T. Do đó yêu cầu của bà Phạm Thị T yêu cầu ông Nguyễn Tuấn M trả 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 166, Điều 274, Điều 275, Điều 280 của Bộ luật dân sự.
[4] Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T được chấp nhận, nên ông Nguyễn Tuấn M phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Hoàn trả cho bà Phạm Thị T tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 274 và Điều 275, Điều 280 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T đối với ông Nguyễn Tuấn M.
- Buộc ông Nguyễn Tuấn M phải trả cho bà Phạm Thị T số tiền là: 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).
- Về án phí:
- Ông Nguyễn Tuấn M phải nộp 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
- Hoàn trả cho bà Phạm Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001467 ngày 17/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trần Kiên |
THÀNH VIÊ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trần Kiên |
Bản án số 45A/2024/DS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về kiện đòi tài sản
- Số bản án: 45A/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thắm - Minh vay tài sản
