Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SỐP CỘP

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST
Ngày: 12-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Cầm Thị Quyến.
  2. Bà Tòng Thị Trang.

Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên tòa: Ông Giàng A Mơ – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 28/6/2024, đối với các bị cáo:

1. Cút Văn T, tên gọi khác: Không, sinh năm 1993; số định danh: 014093003163; nơi cư trú: Bản L, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ giáo dục phổ thông: 06/12; dân tộc: Khơ Mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Cút Văn T1 và con bà: Lò Thị H; vợ: Vèn Thị D, con: 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 03/02/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

2. Lò Văn T2, tên gọi khác: Không, sinh năm 1994; số định danh: 014094004227; nơi cư trú: Bản L, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ giáo dục phổ thông: 8/12; dân tộc: Khơ Mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Lò Văn M và con bà: Lò Thị C; vợ: Lò Thị Ơ, con: 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 03/02/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

2

3. Lò Văn T3, tên gọi khác: Không, sinh năm 1989; số định danh: 014089003879; nơi cư trú: Bản L, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ giáo dục phổ thông: 02/12; dân tộc: Khơ Mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Lò Văn M1 và con bà: Cút Thị K; vợ: Tòng Thị T4, con: 01 con sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 03/02/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

4. Cút Văn T5, tên gọi khác: Không, sinh năm 1986; số định danh: 014086003881; nơi cư trú: Bản L, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ giáo dục phổ thông: 9/12; dân tộc: Khơ Mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Đảng viên Đ (đã bị đỉnh chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số: 61-QĐ/UBKTHU ngày 05.4.2024 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy S); con ông: Cút Văn B và con bà: Quàng Thị K1; vợ: Lò Thị Ơ1, con: 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 03/4/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

Nguyên đơn dân sự: Ban Q, do ông Lương Văn T6 - Phó giám đốc là người đại diện. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Vèn Thị D (vợ Cút Văn T). Trú tại: Bản L, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  • - Bà Lò Thị Ơ1, (vợ Cút Văn T5). Trú tại: Bản L, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  • - Bà Lò Thị T7 (vợ Lò Văn T3). Trú tại: Bản L, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  • - Bà Lò Thị Ơ (vợ Lò Văn T2). Trú tại: Bản L, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 7/2023, Cút Văn TCút Văn T5 cùng trú tại bản Lọng Phát, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La chở củi đi bán tại bản Ban, xã S, huyện S có qua xưởng gỗ của Hoàng Văn P, sinh năm 1982, tạm trú tại bản Ban, xã S, huyện S. Do cần gỗ để đóng đồ nên P hỏi “hai em có gỗ bán không”, T5 hỏi lại “gỗ gì” thì P trả lời “gỗ G lón, các em có gỗ thì bán cho anh”, giá cả sẽ thống

3

nhất theo chất lượng gỗ và nói kích thước gỗ cần mua, sau đó T, T5 đi về nhà. Được khoảng 02 ngày sau, Cút Văn T gặp Cút Văn T5, Lò Văn T3 cùng trú tại bản Lọng Phát, xã D, kể chuyện về việc P hỏi mua gỗ, T có nói “đi xẻ gỗ bán được nhiều tiền hơn bán củi” nên đã rủ Cút Văn T5, Lò Văn T3, Lò Văn T2 đi khai thác gỗ để bán lấy tiền, được T5, Lò Văn T2, T3 đồng ý.

Khoảng 03 ngày sau, Cút Văn T, Lò Văn T2, Cút Văn T5Lò Văn T3 góp mỗi người 20.000 đồng để mua xăng và 01 cái thước loại thước rút dài 03 mét, T5 mang theo 01 đoạn dây dù dài 02 mét, Lò Văn T2 mang máy cưa của mình rồi mỗi người đi 01 xe mô tô đến khu rừng bạch đàn thuộc bản L, xã D để xe mô tô lại rồi cùng nhau đi bộ đến rừng đặc dụng S thuộc xã S, huyện S khai thác gỗ trái phép. Khi đến nơi Cút Văn T, Lò Văn T2, Cút Văn T5Lò Văn T3 cùng nhau đi xem và chọn được 04 cây gỗ G lón rồi cùng nhau lấy máy cưa cắt hạ liên tục trong 02 ngày. Sau khi hạ được 04 cây Lò Văn T2, Cút Văn T, T5, T3 dùng thước đo đạc, dùng chỉ mực (đoạn dây dù tẩm bột than do đốt cành củi khô ở rừng hòa với nước) để đánh dấu cắt thành khúc, rồi Lò Văn T2Cút Văn T thay nhau dùng máy cưa cắt xẻ thành các hộp gỗ, còn T3 phụ khuân, lật và khiêng gỗ, tại cây gỗ G lón thứ nhất có đường kính gốc 0,6 mét, cao khoảng 10 mét, do cây này bị sâu nên xẻ được 04 hộp, chia nhau mỗi người 01 hộp; Cây thứ hai có đường kính gốc 0,65 mét, cao khoảng 15 mét xẻ được 11 hộp trong đó Lò Văn T2 được 05 hộp, Cút Văn T, T5T3 mỗi người được 02 hộp, Lò Văn T2 được chia nhiều hơn do T2 sắp đi làm thuê nên xin lấy phần của 02 cây chưa kịp xẻ để bán lấy tiền đi xe thì được Cút Văn T, Cút Văn T5, Lò Văn T3 đồng ý. Sau khi xẻ được 02 cây gỗ G lón Cút Văn T, Cút Văn T5, Lò Văn T3Lò Văn T2 vác, kéo những hộp gỗ về đến chỗ để xe rồi dùng xe mô tô cá nhân chở về nhà cất giấu, rồi chở đi bán cho Hoàng Văn P, sau khi cắt xẻ xong 02 cây gỗ G lón đầu tiên thì Lò Văn T2 đi làm thuê. Khoảng 02 tuần sau, Cút Văn T, Cút Văn T5, Lò Văn T3 tiếp tục mang máy cưa của Cút Văn T đi đến khu rừng đặc dụng trên cắt xẻ 02 cây G lón còn lại đã cắt hạ cùng với 02 cây trước, T5 dùng thước và chỉ mực để đo, đạc, đánh dấu còn T3 phụ khuân, lật và khiêng gỗ, Cút Văn T sử dụng máy cưa cắt thành khúc như đánh dấu rồi xẻ thành hộp, tại cây G lón thứ ba có đường kính gốc 0,9 mét, cao khoảng 10-11 mét, xẻ được 03 hộp chia nhau mỗi người được 01 hộp; Cây thứ tư có đường kính gốc 0,5 mét, cao khoảng 10-11 mét, xẻ được 03 hộp mỗi người chia nhau được 01 hộp. Sau khi khai thác được gỗ Cút Văn T, Cút Văn T5, Lò Văn T3 vác, kéo những hộp gỗ đã xẻ được ra đến nơi để xe mô tô và dùng xe chở về nhà cất giấu rồi tiếp tục dùng xe mô tô cá nhân tự chở xuống xưởng gỗ của Hoàng Văn P để bán lấy tiền.

Cút Văn T đã 02 lần mang 05 hộp gỗ G lón bán cho Hoàng Văn P, được tổng số tiền 1.970.000 đồng; Lò Văn T2 đã 03 lần mang 06 hộp gỗ G lón bán

4

cho Hoàng Văn P được tổng số tiền 2.310.000 đồng; Cút Văn T5 03 lần mang 05 hộp gỗ G lón bán cho Hoàng Văn P được tổng số tiền 1.950.000 đồng; Lò Văn T3 03 lần mang 05 hộp gỗ G lón bán cho Hoàng Văn P được tổng số tiền 1.950.000 đồng.

Sau khi bán gỗ được số tiền trên, các bị cáo Cút Văn T, T5, T3, Lò Văn T2 đã tiêu sài cá nhân hết, không truy thu được. Đến ngày 30/01/2024, người dân tại xã D, huyện S đi chăn thả gia súc trong rừng đặc dụng Sốp Cộp phát hiện các cây gỗ G lón bị khai thác nên đã trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã triệu tập Cút Văn T, T3, Lò Văn T2 đến để làm việc và đã thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm của bản thân, còn Cút Văn T5 đi làm thuê, đến ngày 21/02/2024 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S khai nhận về hành vi vi phạm của bản thân.

Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã phối hợp với Ban quản lý rừng đặc dụng Sốp Cộp và Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ việc.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 31/01/2024 thể hiện: Vị trí số 1 có tọa độ x = 460475, y= 2321758, thuộc tiểu khu F, khoảnh 1, lô d, trạng thái rừng IIb theo bản đồ giao đất, giao rừng năm 2003, với khối lượng lâm sản bị thiệt hại là 4,456 mét khối (m³) gỗ tròn (ký hiệu 01); vị trí số 2 có tọa độ x = 46072, y= 2321879, thuộc tiểu khu F, khoảnh 2, lô a, trạng thái rừng IIIal theo bản đồ giao đất giao rừng năm 2003 với khối lượng lâm sản bị thiệt hại là 3,818 m3 gỗ tròn (ký hiệu 02), là vị trí 02 gốc cây gỗ Cút Văn T, Lò Văn T2, Cút Văn T5, Lò Văn T3 đã thực hiện hành vi khai thác.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 12/3/2024 thể hiện: Vị trí số 1 có tọa độ x = 460721, y= 2321861, thuộc tiểu khu F, khoảnh 2, lô a, trạng thái rừng IIIal theo bản đồ giao đất, giao rừng năm 2003, với khối lượng lâm sản bị thiệt hại là 5,070 mét khối (m³) gỗ tròn (ký hiệu 05); vị trí số 2 có tọa độ x = 460715, y= 2321845, thuộc tiểu khu F, khoảnh 2, lô a, trạng thái rừng IIIal theo bản đồ giao đất giao rừng năm 2003 với khối lượng lâm sản bị thiệt hại là 1,293 m3 gỗ tròn (ký hiệu 06), là vị trí 02 gốc cây gỗ Cút Văn T, Lò Văn T2, Cút Văn T5, Lò Văn T3 đã thực hiện hành vi khai thác.

Tại bản kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp số 05-2024/KL/GĐCN ngày 02/02/2024 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh S, kết luận:

“- Xác định chủng loại, nhóm gỗ: Toàn bộ gỗ của 02 cây gỗ (có ký hiệu 01 và 02) bị chặt hạ, khai thác (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp ghi 10 khúc, đoạn (ký hiệu 1.1; 1.2; 1.3; 1.4.1; 1.4.2; 1.5; 2.1; 2.2; 2.3.1; 2.3.2) có tổng khối

5

lượng 8,273 m³ gỗ tròn, có tên địa phương là G lón (Si đá), là gỗ thông thường, gỗ không nằm trong Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ; không nằm trong Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.

- Xác định vị trí 02 cây gỗ (ký hiệu số 01 và 02) thuộc tiểu khu, khoảnh, lô, loại rừng, chức năng của rừng, trạng thái rừng:

+ Đối chiếu vị trí các cây gỗ bị chặt hạ (ký hiệu số 01 và 02) được xác định bằng máy định vị GPS với bản đồ rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đã được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018 cây số 02 thuộc lô 1 khoảnh 2 tiểu khu F thuộc địa phận xã S, huyện S, trạng thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường X (TXB) và cây 01 thuộc lô 3 khoảnh 1 tiểu khu F trạng thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh phục hồi (TXP) nằm trong quy hoạch rừng đặc dụng; Được giao cho Ban Q.

+ Đối chiếu với dữ liệu bản đồ giao đất giao rừng tại Quyết định số 2742/QĐ-UBND ngày 12/10/2009 thuộc cây số 02 thuộc lô a khoảnh 2 Tiểu khu 676 trạng thái rừng thứ sinh tự nhiên lá rộng thường xanh tái sinh sau khai thác kiệt (IIIal) và cây số 01 thuộc lô đ khoảnh 1 tiểu khu F trạng thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh phục hồi sau khai thác kiệt (IIb) thuộc loại rừng đặc dụng; Được giao cho Ban Q”.

Tại bản kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp số 09-2024/KL/GĐCN ngày 18/3/2024 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh S kết luận:

- Xác định chủng loại, nhóm gỗ: Toàn bộ 04 khúc gỗ của 02 cây gỗ (ký hiệu số 05 và 06) bị chặt hạ, khai thác (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp 04 khúc, đoạn (ký hiệu 5.1; 5.2; 5.3; 6.1 có tổng khối lượng 6,363 m³ gỗ tròn) có tên địa phương là G lón (Si đá), là gỗ thông thường, gỗ không nằm trong Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ; không nằm trong Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.

- Xác định vị trí 02 cây gỗ (ký hiệu số 05 và 06) thuộc tiểu khu, khoảnh, lô, loại rừng, chức năng của rừng, trạng thái rừng:

+ Đối chiếu vị trí các cây gỗ bị chặt hạ (ký hiệu số 05 và 06) được xác định bằng máy định vị GPS với bản đồ rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đã được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018 cây số 05 và cây 06 thuộc lô 1 khoảnh 2 tiểu khu F thuộc địa phận

6

S, huyện S, thuộc loại rừng đặc dụng với trạng thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường X (TXB).

+ Đối chiếu với dữ liệu bản đồ giao đất giao rừng tại Quyết định số 2742/QĐ-UBND ngày 12/10/2009 cây số 05 và cây số 06 thuộc lô a khoảnh 2 Tiểu khu 676 trạng thái rừng thứ sinh tự nhiên lá rộng thường xanh tái sinh sau khai thác kiệt (IIIal) thuộc loại rừng đặc dụng; Được giao cho Ban Q.

Tại Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐG ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, kết luận: “8,273 mét khối (m³) gỗ tròn loại gỗ Si đá (tên địa phương G lón) là gỗ thông thường có giá là 17.100.000 đồng”.

Tại Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, kết luận: “6,363 mét khối (m³) gỗ tròn loại gỗ Si đá (tên địa phương G lón) là gỗ thông thường có giá là 13.152.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 12/4/2024 ông Lương Văn T6 – Phó Giám đốc Ban Q là người được cử đại diện hợp pháp của Ban Q đề nghị các bị cáo phải bồi thường số tiền theo Kết luận định giá là 30.252.000 đồng. Ngày 21/5/2024, các bị cáo đã tác động gia đình nộp bồi thường với tổng số tiền 16.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.

Cáo trạng số: 29/CT-VKSSC ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, truy tố Cút Văn T, Lò Văn T2, Lò Văn T3Cút Văn T5 về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản quy định tại điểm e khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

  • - Các bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử là không oan sai.
  • - Nguyên đơn dân sự ý kiến: Sau khi vụ án bị phát hiện, đã xác định được mức thiệt hại do các bị cáo gây ra theo định giá là 30.252.000 đồng. Gia đình các bị cáo (vợ các bị cáo) đã bồi thường được 16.000.000 đồng, nay yêu cầu các bị cáo bồi thường tiếp số còn lại.
  • - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (là vợ của các bị cáo) đều có ý kiến: Việc các bị cáo đi khai thác gỗ tại rừng Đặc dụng thì gia đình không biết, sau khi sự việc xảy ra đã khắc phục bồi thường cho mỗi bị cáo 4.000.000 đồng, và đều đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

7

  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp sau khi trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
    • + Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 232, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố các bị cáo: Cút Văn T; Lò Văn T2, Lò Văn T3, Cút Văn T5 phạm tội: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản. Đề nghị xử phạt: Cút Văn T từ 28 đến 30 tháng tù; Lò Văn T2 từ 26 đến 28 tháng tù; Lò Văn T3, Cút Văn T5 từ 24 đến 26 tháng tù đều xem xét cho hưởng án treo, với mức thử thách thích hợp, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án. Trả tự do cho các bị cáo tại phiên toà. Giao các bị cáo cho UBND xã D, huyện S theo dõi trong thời gian thử thách.
    • + Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
    • + Các bị cáo được miễn án phí.
    • + Các bị cáo; nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo.

Bị cáo; những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra công an huyện S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định tội danh:

- Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên toà, có đủ căn cứ chứng minh: Vào khoảng tháng 07/2023 Cút Văn T, Lò Văn T2, Lò Văn T3Cút Văn T5 đã có hành vi sử dụng máy cưa xích chặt hạ 04 cây gỗ Giang lón (Si đá), tại Tiểu khu F, khoảnh 1, lô đ và khoảnh 2, lô a, rừng đặc dụng Sốp Cộp thuộc xã S, huyện S là rừng tự nhiên được giao cho Ban Q quản lý. Sau khi

8

chặt hạ, các bị cáo đã cắt khúc, xẻ thành 21 thanh gỗ hộp chia nhau bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Tổng khối lượng thiệt hại do các bị cáo chặt phá là 14,636 mét khối (m³), có giá trị theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S là 30.252.000 đồng (ba mươi triệu hai trăm năm mươi hai nghìn).

- Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; lời khai nhận của các bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Các bị cáo Cút Văn T, Lò Văn T2, Lò Văn T3, Cút Văn T5 đã phạm tội: "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự. Như vậy, khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi khai thác gỗ trái phép của các bị cáo đã xâm hại đến trật tự quản lý của Nhà nước, xâm phạm sự phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường rừng, gây hiểm họa khôn lường đến môi trường sinh thái. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó cần có mức hình phạt đúng mức, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và để phòng ngừa chung.

[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Cút Văn T là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội, Lò Văn T2 là người cung cấp công cụ (máy cưa). Tuy nhiên, các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất, phân công nhiệm vụ. Vì vậy, tính chất đồng phạm trong vụ án là đồng phạm giản đơn, vị trí, vai trò đều là người thực hành. Cút Văn T5 là Đảng viên Đ, lẽ ra phải là người tiên phong gương mẫu và có ý thức chấp hành pháp luật, nhưng vì lợi ích trước mắt đã cùng các bị cáo cố ý phạm tội.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều là dân tộc thiểu số, sống tại bản có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đa số là hộ nghèo. Sau khi tội phạm xảy ra đã tác động gia đình như (vợ, con) bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp mỗi bị cáo 4.000.000 đồng; tại cơ quan Điều tra và tại phiên toà đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, Lò Văn T3 có bố, mẹ đẻ có giấy chứng nhận tham gia dân công hoả tuyến; Cút Văn T5 có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng

9

chiến và được Chính phủ nước CHDCND Lào tặng Huân chương kháng chiến chống mỹ cứu nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho các bị cáo được hưởng.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:

Các bị cáo sau khi tội phạm xảy ra đã tỏ rõ sự ăn năn, hối cải; tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả; các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; chấp hành tốt quy ước, hương ước của thôn bản. Do vậy, xét thấy không nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho các bị cáo được hưởng án treo, cải tạo, giáo dục tại địa phương, dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

[6] Về vấn đề khác liên quan trong vụ án:

  • - Đối với Hoàng Văn P là chủ cơ sở chế biến gỗ, có Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh và có hành vi mua bán lâm sản là gỗ G lón (Si đá) không có hồ sơ hợp pháp của các bị cáo, tổng 21 hộp gỗ không có hồ sơ, giấy tờ hợp pháp. Quá trình điều tra xác định, giữa P và các bị cáo không hứa hẹn mua bán lâm sản với nhau từ trước và P không biết số gỗ các bị cáo mang bán là do khai thác trái phép trong rừng Đặc dụng Sốp Cộp mà có nên không đặt vấn đề xử lý, Công an huyện S đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Văn P về hành vi mua bán lâm sản trái phép là có căn cứ, cần chấp nhận.
  • - Đối với 14 khúc, hộp gỗ đã bị cưa, xẻ của 04 cây Si đá (G lón) là vật chứng phát hiện khi khám nghiệm hiện trường, do là vật chứng cồng kềnh, khối lượng lớn, khó vận chuyển trên địa hình đồi núi, quá trình điều đã xác định rõ nguồn gốc, chủng loại, Cơ quan điều tra đã bàn giao số vật chứng nêu trên cho Ban Q1 để quản lý, bảo vệ là có căn cứ.
  • - Đối với 01 cái thước, loại thước rút dài 03 m và 01 đoạn dây dù dài 02 m là các công cụ các bị cáo sử dụng để đo đạc, đánh dấu khi tiến hành cắt xẻ gỗ, các bị cáo khai nhận đã vứt lại tại hiện trường, đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không tìm thấy vì vậy không thu giữ, tạm giữ được nên không đặt vấn đề xử lý.
  • - Đối với 01 xe mô tô của Lò Văn T2; 01 xe mô tô của Lò Văn T3 và 01 xe mô tô của Cút Văn T5 là phương tiện các bị cáo sử dụng để vận chuyển gỗ khai

10

thác được từ rừng đặc dụng Sốp Cộp về nhà và mang đi bán, các bị cáo khai nhận do xe mô tô bị hư hỏng, không sử dụng được nên đã bán cho người thu mua sắt vụn (không xác định được họ tên, địa chỉ) cùng năm 2023, vì vậy không có căn cứ để truy tìm, thu giữ, tạm giữ vật chứng là có căn cứ.

  • - Đối với 01 máy cưa xích của Lò Văn T2 là công cụ các bị cáo sử dụng để khai thác gỗ, Lò Văn T2 khai nhận đã bị hỏng nên đã bán sắt vụn cho một người thu mua sắt vụn không quen biết nên không có căn cứ để truy tìm, thu giữ là có căn cứ.
  • - Đối với 21 hộp gỗ Si đá (G lón) có khối lượng 0,693 m³, các bị cáo đã bán cho Hoàng Văn P. Quá trình làm việc P khai nhận đã sử dụng hết để đóng thành sản phẩm và bán cho khách hàng (không biết tên tuổi, địa chỉ), vì vậy không có căn cứ để truy tìm, thu giữ, tạm giữ vật chứng là có căn cứ.

[7] Về biện pháp tư pháp: Đối với khoản tiền thu lợi bất chính do các bị cáo phạm tội mà có (tiền bán gỗ), cần truy thu nộp ngân sách Nhà Nước.

[8] Về bồi thường dân sự: Chấp nhận việc các bị cáo đã bồi thường được 16.000.000 đồng, (phần của mỗi bị cáo 4.000.000 đồng), phần còn lại các bị cáo phải bồi thường tiếp.

[9] Vật chứng của vụ án còn lại: 01 máy cưa, nhãn hiệu HONDA CX685, là vật liên quan đến phạm tội, cần tịch thu để tiêu huỷ; Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu DETECH, biển kiểm soát: 26F1 - 077.77, do Cút Văn T tự nguyện giao nộp, xe đã cũ nát và không có giấy tờ đăng ký, xe không đảm bảo an toàn tham gia giao thông, do đó cần tịch thu tiêu huỷ.

[10] Về hình phạt bổ sung và án phí: Các bị cáo không có tài sản, đều là dân tộc thiểu số, cư trú tại bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và đều được miễn án phí. (Căn cứ QĐ: 433/UBDT ngày 18/6/2021).

[11] Về quan điểm của Kiểm sát viên như: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với các bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên đều được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 232, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố các bị cáo Cút Văn T; Lò Văn T2; Lò Văn T3; Cút Văn T5 phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.

11

  • + Xử phạt: Cút Văn T 02 năm 04 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách 04 năm 08 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án ngày 12/7/2024.
  • + Xử phạt: Lò Văn T2 02 năm 02 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách 04 năm 04 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án ngày 12/7/2024.
  • + Xử phạt: Cút Văn T5 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách 04 năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án ngày 12/7/2024.
  • + Xử phạt: Lò Văn T3 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách 04 năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án ngày 12/7/2024.

Căn cứ Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do ngay tại phiên toà cho các bị cáo, nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao các bị cáo cho UBND xã D, huyện S, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự”.

2. Về Biện pháp tư pháp: Truy thu của các bị cáo nộp vào ngân sách Nhà nước:

  • - Cút Văn T số tiền 1.970.000 đồng;
  • - Lò Văn T2 số tiền 2.310.000 đồng;
  • - Cút Văn T5 số tiền 1.950.000 đồng;
  • - Lò Văn T3 số tiền 1.950.000 đồng.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ:

  • - 01 máy cưa xích sử dụng xăng, nhãn hiệu HONDA CX685, vỏ bằng nhựa màu đỏ có gắn 01 thanh kim loại (lam cưa) dài 60 cm và 01 sợi kim loại dạng xích, gắn kết thành vòng tròn (lưỡi cưa).
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu DETECH, loại Win, màu xanh đen, biển kiểm soát: 26F1 - 077.77, số khung: RPEXCE9PEGAO10026, số máy: IDEJQ152FMJD10026,

12

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 29 ngày 11/6/2024 của Viện kiểm sát huyện S và biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/6/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an sự huyện S, tỉnh Sơn La).

4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584, các Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 587 và Điều 589 Bộ luật dân sự. Các bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho BQL rừng đặc dụng S1 theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá, tổng cộng 30.252.000 đồng (Ba mươi triệu hai trăm năm mươi hai nghìn đồng). Các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thường phần của mỗi bị cáo là 7.563.000 đồng (bảy triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn đồng). Các bị cáo đã bồi thường và phải bồi thường tiếp cụ thể như sau:

  • - Cút Văn T đã bồi thường: 4.000.000 đồng (bốn triệu), tại B1 lại thu tiền số 0000472 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Bị cáo Cút Văn T phải bồi thường tiếp: 3.563.000 đồng (ba triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn đồng).
  • - Lò Văn T2 đã bồi thường: 4.000.000 đồng (bốn triệu), tại B1 lại thu tiền số 0000473 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Bị cáo Lò Văn T2 phải bồi thường tiếp: 3.563.000 đồng (ba triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn đồng).
  • - Cút Văn T5 đã bồi thường: 4.000.000 đồng (bốn triệu), tại B1 lại thu tiền số 0000471 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Bị cáo Cút Văn T5 phải bồi thường tiếp: 3.563.000 đồng (ba triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn đồng).
  • - Lò Văn T3 đã bồi thường: 4.000.000 đồng (bốn triệu), tại B1 lại thu tiền số 0000470 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Bị cáo Lò Văn T3 phải bồi thường tiếp: 3.563.000 đồng (ba triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn đồng).

5. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 12/7/2024.

13

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Sốp Cộp;
  • - THA hình sự;
  • - CCTHA Dân sự huyện Sốp Cộp;
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lường Văn Quyết

T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cút Văn T+ĐP phạm tội Vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger