Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 11-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Võ Thành Công;
  • 2. Ông Nguyễn Hoàng Điền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Long Hồ - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T

, sinh năm 1989; nơi cư trú: không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; cha, mẹ ruột: Không xác định; mẹ nuôi: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1960; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Chưa có; tiền án: Ngày 09/8/2022 bị Tòa án Nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (lần phạm tội này đã tái phạm), chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/4/2024; nhân thân: Ngày 14/7/2015 bị Tòa án Nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/12/2015; ngày 03/9/2020 bị Tòa án Nhân dân thị xã Hồng Ngự (nay là Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự), tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 03 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/8/2021; tạm giữ: Ngày 09/7/2024; tạm giam: Từ ngày 12/7/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2

- Bị hại: Võ Thị Đ, sinh năm 1966 (có đơn xin xét xử vắng mặt). Nơi cư trú: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hồ Văn S, sinh năm 1982 (vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

  1. Trang Minh T2, sinh năm 1971 (vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Bùi Phước Đ1, sinh năm 2003 (vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T có 01 (một) tiền án về tội trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm tù, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 26/4/2024. Do muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài nên T tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 09/7/2024, Nguyễn Văn T mượn xe mô tô biển số 90B2 - 201.77 của anh Hồ Văn S, điều khiển đến Bệnh viện Đ2 (Bệnh viện), địa chỉ khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp để tìm kiếm tài sản lấy trộm. Khi đến Bệnh viện, T để xe bên ngoài, đi vào bên trong khuôn viên Bệnh viện; sau đó T đi đến phòng bệnh số E, khoa Nội tổng hợp thì phát hiện bà Võ Thị Đ đang nằm ngủ trên giường bệnh, bên cạnh có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu vàng đang cấm sạc nên T đi vào trong phòng lén lút lấy trộm điện thoại và cục S2; khi T tẩu thoát đến trước cửa phòng thì bà Đ phát hiện T nên truy hô, lúc này lực lượng bảo vệ Bệnh viện nghe tiếng truy hô nên tiến hành vây bắt T và giao cho Cơ quan Công an xử lý.

- Vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động; 01 (một) xe mô tô loại xe Wave, màu đỏ, biển số 90B2 - 201.77, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động; Đối với 01 (một) cục sạt điện thoại di động hiệu Realme, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy.

3

Tại biên bản kết luận định giá tài sản số: 51/KL-HĐĐG, ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, kết luận: Giá trị 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu vàng, đã qua sử dụng là 3.600.000 đồng; Giá trị 01 (một) cục sạt điện thoại di động hiệu Realme, đã qua sử dụng là 150.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý: Trả lại cho bà Võ Thị Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động; trả lại cho anh Hồ Văn S 01 (một) xe mô tô loại xe Wave, màu đỏ, biển số 90B2 - 201.77, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Thị Đ đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu gì thêm. Riêng đối với cục sạc điện thoại di động hiệu Realme bị cáo chiếm đoạt của chị Võ Thị Đ, trong khi bỏ chạy T đã ném bỏ, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu được, chị Đ cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường trị giá phần tài sản này.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số: 47/CT-VKSTPHN, ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức hình phạt từ 03 năm đến 04 năm tù.

Đối với việc Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô biển số 90B2 - 201.77 đi tìm tài sản để lấy trộm. Qua điều tra, xác định anh Hồ Văn S là chủ sở hữu xe mô tô này, việc Nguyễn Văn T mượn xe, điều khiển đi thực hiện hành vi phạm tội anh S không biết nên không có căn cứ xem xét xử lý anh Hồ Văn S với vai trò đồng phạm tội Trộm cắp tài sản với Nguyễn Văn T, do đó không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

4

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý: Trả lại cho bà Võ Thị Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động; trả lại cho anh Hồ Văn S 01 (một) xe mô tô loại xe Wave, màu đỏ, biển số 90B2 - 201.77, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Trả lại cho Nguyễn Văn T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Thị Đ đã nhận lại tài sản bị mất là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động và không yêu cầu gì thêm. Riêng đối với cục sạc điện thoại di động hiệu Realme bị cáo chiếm đoạt của chị Võ Thị Đ, trong khi bỏ chạy T đã ném bỏ, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu được, bị hại cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường trị giá phần tài sản này, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã thực hiện như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

5

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo đang có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản (thuộc trường hợp tái phạm); do không có nghề nghiệp lại lười biếng lao động nhưng lại muốn nhanh có tiền để tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã tiếp tục đi vào con đường phạm tội, cụ thể là: Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 09/7/2024, tại phòng bệnh số E, khoa Nội tổng hợp của Bệnh viện Đ2, Nguyễn Văn T đã lén lút lấy trộm của bà Võ Thị Đ 01 (một) điện thoại di động và 01 (một) cục sạt điện thoại nhãn hiệu Realme của bà Võ Thị Đ nhằm mục đích đem đi bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân thì bị bà Đ phát hiện truy hô cùng với mọi người xung quanh bắt giữ Tâm giao cho Cơ quan Công an xử lý.

Căn cứ Biên bản kết luận định giá tài sản số: 51/KL-HĐĐG, ngày 11/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, kết luận: Giá trị 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu vàng, đã qua sử dụng là 3.600.000 đồng; giá trị 01 (một) cục sạt điện thoại di động hiệu Realme, đã qua sử dụng là 150.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Nguyễn Văn T chiếm đoạt của bị hại Võ Thị Đ là 3.750.000 đồng

Căn cứ vào lời thừa nhận của bị cáo; lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

a) ...;

g) Tái phạm nguy hiểm;”

6

Tội phạm mà bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mặt khác còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Hiện nay tình hình trộm cắp trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi. Nhằm để ổn định trật tự trị an ở địa phương, góp phần vào công cuộc phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[3] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, từng nhiều lần bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đáng ra, sau mỗi lần bị xử phạt tù trên, bị cáo phải tự suy ngẫm lại hành vi sai trái của mình, biết ăn năn hối cải, ra sức lao động phấn đấu trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, tự tìm cho mình một việc làm hợp pháp để có thu nhập chính đáng từ chính công sức lao động của mình. Nhưng bị cáo không làm được điều đó, do bản thân không có nghề nghiệp nhưng lại muốn nhanh có tiền tiêu xài nên mỗi lần chấp hành án xong bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự thiếu ý thức trong tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc hơn mức hình phạt đã xét xử bị cáo trước đây, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.

[6] Đối với việc Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô biển số 90B2 - 201.77 đi tìm tài sản để lấy trộm. Qua điều tra, xác định, anh Hồ Văn S là chủ sở hữu xe

7

mô tô này, việc Nguyễn Văn T mượn xe, điều khiển đi thực hiện hành vi phạm tội anh Hồ Văn S1 không biết nên không có căn cứ xem xét xử lý anh Hồ Văn S với vai trò đồng phạm tội Trộm cắp tài sản với Nguyễn Văn T do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[7] Về vật chứng vụ án:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý: Trả lại cho bà Võ Thị Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động; Trả lại cho anh Hồ Văn S 01 (một) xe mô tô loại xe Wave, màu đỏ, biển số 90B2 - 201.77, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động; Riêng đối với cục sạc điện thoại di động hiệu Realme bị cáo chiếm đoạt của chị Võ Thị Đ, trong khi bỏ chạy T đã ném bỏ, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu được. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Văn T. Đây là tài sản hợp pháp của T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho Nguyễn Văn T là phù hợp pháp luật.

[8 ] Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra, bị hại Võ Thị Đ đã nhận lại tài sản bị mất là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động và không yêu cầu gì thêm. Riêng đối với cục sạc điện thoại di động hiệu Realme bị cáo chiếm đoạt của bị hại, trong khi bỏ chạy T đã ném bỏ, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu được, bị hại cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường trị giá phần tài sản này. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của bị hại, phù hợp với pháp luật và có lợi cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 09/7/2024).

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động.

(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hồng Ngự đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/9/2024). Riêng bị hại vắng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND. TX. Hồng Ngự;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND TP. Hồng Ngự;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Cơ quan điều tra Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Thống

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger