|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11 - 7 - 2024
V/v: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, cấp dưỡng nuôi con”.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Út.
2. Bà Lê Thái Thị Kim Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Đoan Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Mai Lý Lệ H - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 544/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2023 về tranh chấp: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, cấp dưỡng nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2024/QÐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Ông Trần Minh Đ - Sinh năm 1976 (Có mặt).
2/ Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M - Sinh năm 1985 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khu phố A, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình tham gia tố tụng, Nguyên đơn là ông Trần Minh Đ trình bày:
Trước đây, ông và bà Nguyễn Thị M có mối quan hệ là vợ chồng. Tuy nhiên trong cuộc sống có nhiều mâu thuẫn do cách sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, bà M ngoại tình nên đã ly hôn. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 217/2022/QÐST-HNGĐ ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận thì 01 con chung của ông với bà Nguyễn Thị M là Trần Minh P - sinh ngày 19/6/2008 được giao cho bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ông có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà M không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà để con cho anh trai của bà M là ông Sáu T (ông không biết họ, tên đệm, tên, năm sinh) ở đường H, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Trong thời gian cháu P sinh sống tại nhà cậu mợ; ông thăm nom, chăm sóc, giáo dục con nên biết được thông tin cháu P thường xuyên bị cậu mợ la mắng dẫn đến tinh thần, sức khỏe bị ảnh hưởng. Bởi vậy, từ cuối năm 2022 đến nay, cháu P về sinh sống với ông, do ông là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; đến nay tâm sinh lý và sức khỏe của cháu bình thường. Hiện cháu P đã học xong lớp 10 tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh N.
Từ khi ông và bà M ly hôn đến nay, ông chưa gặp bà M và cũng không liên lạc được với bà M; ông chưa kết hôn với ai, còn bà M đã kết hôn với ai hay chưa thì ông không biết nhưng lý do ông và bà M ly hôn là do bà M ngoại tình. Ông làm nghề phụ hồ và đi biển, thu nhập mỗi tháng khoảng 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Bản thân ông là người có phẩm chất đạo đức tốt, từ trước đến nay chưa vi phạm pháp luật.
Ông thấy rằng bà M không còn đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nữa nên ông đề nghị Tòa án giải quyết: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với bà Nguyễn Thị M, giao 01 con chung là Trần Minh P - sinh ngày 19/6/2008 cho ông trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ông yêu cầu bà Nguyễn Thị M cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Về án phí: Ông Trần Minh Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị M: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà M không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:
Đối với nguyên đơn: Đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Đối với bị đơn: Chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS).
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Minh Đ đối với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu bà Nguyễn Thị Mỹ trợ c nuôi con đến khi đủ 18 tuổi mỗi tháng 2.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Minh Đ khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, cấp dưỡng nuôi con với bà Nguyễn Thị M có nơi cư trú tại khu phố A, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 3, khoản 5 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS; xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, cấp dưỡng nuôi con”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
[1.2] Về việc vắng mặt bị đơn: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn là bà Nguyễn Thị M nhưng bà M không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: Căn cứ vào lời khai của ông Trần Minh Đ, các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, thấy rằng:
[2.1.1] Mặc dù được giao trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trần Minh P nhưng bà Nguyễn Thị M không thực hiện nghĩa vụ này mà lại gửi cháu P cho anh trai và chị dâu của mình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Trong thời gian thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; ông Đ phát hiện cháu P thường xuyên bị cậu mợ la mắng dẫn đến tinh thần, sức khỏe bị ảnh hưởng. Vì vậy, từ cuối năm 2022 đến nay, cháu P về sinh sống với ông Đ, do ông Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện tại cháu P đã học xong lớp 10; tâm sinh lý và sức khỏe của cháu ổn định bình thường.
[2.1.2] Sự thực của nội dung trên được xác nhận tại “Đơn xin xác nhận cư trú” ngày 04/8/2023 của đại diện khu phố 01 và UBND phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận với nội dung: “……… Ngày 16/8/2022, ông Trần Minh Đ và bà Nguyễn Thị Mỹ ly h theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 217/2022/QÐST-HNGĐ ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Bà M là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Minh P. Tuy nhiên, từ khi có quyết định ly hôn, bà M rời khỏi địa phương, không trực tiếp nuôi dưỡng cháu P. Từ tháng 9/2022 đến nay, ông Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu P; ông Đ và cháu P đang cùng sinh sống tại khu phố A, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận” và lời trình bày của cháu P tại “Đơn trình bày” ngày 07/8/2023, “Biên bản lấy lời khai của đương sự” ngày 23/5/2024 (Bút lục 34, 38, 39). Mặt khác, cháu P có nguyện vọng được sống với ba là ông Trần Minh Đ. Ông Đ có nghề nghiệp, có thu nhập, có sức khỏe và phẩm chất đạo đức tốt. Vì vậy, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, bảo đảm việc học hành. Căn cứ Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu của ông Đ thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; giao cháu P cho ông Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
[2.2] Về nghĩa vụ và mức cấp dưỡng nuôi con: Xét yêu cầu của ông Trần Minh Đ buộc bà Nguyễn Thị M cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng; Hội đồng xét xử phân tích như sau:
[2.2.1] Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 217/2022/QÐST-HNGĐ ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận ghi nhận nội dung: “Ông Trần Minh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng được tính kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, lao động tự túc được” (Bút lục 31). Thực hiện theo sự thỏa thuận này, ông Đ đã cấp dưỡng cho cháu P khi trực tiếp đưa tiền cho cháu mỗi lần đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con (Do ông Đ không gặp được bà M) và được cháu P xác nhận (Bút lục 38, 39).
[2.2.2] Tại khoản 20 Điều 3 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình” và tại khoản 1 Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”.
[2.2.3] Như vậy, với các phân tích, đánh giá nêu trên, đối chiếu với quy định của pháp luật và nhu cầu thiết yếu hiện nay của cháu Trần Minh P; Hội đồng xét xử có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của ông Trần Minh Đ; buộc bà Nguyễn Thị M phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Trần Minh P với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 2.000.000 đồng.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; ông Trần Minh Đ và bà Nguyễn Thị M mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3, khoản 5 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Các Điều 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Trần Minh Đ.
- Giao cháu Trần Minh P - sinh ngày 19/6/2008 cho ông Trần Minh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu Trần Minh P đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Buộc bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Minh P - sinh ngày 19/6/2008 mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng); thời gian cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự túc được.
- Về án phí: Ông Trần Minh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005687 ngày 14/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Ông Đ đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm (Phần cấp dưỡng nuôi con).
Sau khi thay đổi người trực tiếp nuôi con, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai, nguyên đơn có mặt - quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 11/7/2024). Bị đơn vắng mặt - quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hồng |
Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, cấp dưỡng nuôi con
- Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, cấp dưỡng nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con giữa ông Trần Minh Đ với bà Nguyễn Thị M
