Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN Ô MÔN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11 - 7 - 2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Kiệt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tiềm;

Ông Hồ Minh Khương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Dũng - Thẩm tra viên chính Tòa án

nhân Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử Số 51/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QĐST- HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Tống Thị K, sinh năm 1997.

Địa chỉ: KV L, phường L, quận Ô, TP ., (Có mặt tại phiên tòa).

Bị đơn: Ông Đỗ Văn K1, sinh năm 1987.

Địa chỉ: KV L, phường L, quận Ô, TP ., (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Tống Thị K trình bày: Bà Tống Thị K và ông Đỗ Văn K2 tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, quận Ô, TP . vào ngày 20/3/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đầu năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, bất hòa về tình cảm và kinh tế gia đình, nên thường xuyên cải nhau. Mặc dù, cả hai đã cố gắng duy trì và hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân cách nay 06 năm. Do thấy hôn nhân không hạnh phúc, nên bà K xin ly hôn với ông K2.

Về con chung: Bà K và ông K2 có 02 con chung là Đỗ Thái K3, (nam), sinh năm 25/01/2014 và cháu Đỗ Đình Đ, (nữ), sinh ngày 04/9/2016. Hiện 02 con chung do ông K2 nuôi dưỡng, nên bà K đồng ý giao 02 con chung cho ông K2 trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia phiên phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, không khai chứng cứ vào hòa giải, nhưng bị đơn Đ1 ăn K2 vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông K2 theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Tống Thị K và ông Đỗ Văn K1 tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn. Nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà K có đơn xin ly hôn với ông K1 đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Tranh chấp này, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn quận Ô, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ô Môn theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập đối với ông K1, nhưng ông K1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông K1 theo định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Tống Thị K và ông Đỗ Văn K1 tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận Ô, thành phố Cần Thơ vào ngày 20/5/2015, nên xác định hôn nhân của của đương sự là hợp pháp. Bà K cho rằng, đầu năm 2019 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, bất hòa về tình cảm và kinh tế gia đình, nên thường xuyên cải nhau. Mặc dù, cả hai đã cố gắng duy trì và hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân cách nay 06 năm. Do thấy hôn nhân không hạnh phúc, nên bà K xin ly hôn với ông K1. Tại phiên tòa, bà K vẫn kiên quyết xin được ly hôn với ông K1. Đối với ông K1, quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần, nhưng ông K1 vẫn vắng mặt không có lý do, cũng như không có gửi văn bản nào để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà K. Điều đó, cho thấy ông K1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm đối với bà K. Điều đó, chứng tỏ, mâu thuẫn vợ chồng của các đương sự đã thật sự sâu sắc, trầm trọng, mục đích của hôn nhân là hạnh phúc không đạt được. Nên yêu cầu ly hôn của bà K đối với ông K1 có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Bà K và ông K1 có 02 con chung là Đỗ Thái K3, (nam), sinh ngày 25/01/2014 và Đỗ Đình Đ, (nữ), sinh ngày 04/9/2016. Hiện nay, 02 con chung do ông K1 trực tiếp nuôi dưỡng, nên bà K đồng ý giao 02 con chung cho ông K1 trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Tại Bản trình bày ý kiến ngày 20/5/2024 các cháu Đỗ Thái K3Đỗ Đình Đ trình bày hiện 02 cháu đang do cha là ông K1 trực tiếp nuôi dưỡng với điều kiện, ăn, ở, học tập rất tốt, 02 cháu cũng có nguyện vọng cùng sinh sống với ông K1 và không yêu cầu bà K cấp dưỡng. Việc bà K tự nguyện giao 02 con chung cho ông K1 trực tiếp nuôi dưỡng cũng để tạo điều kiện cho các cháu K3Đình Đ được ổn định về nơi ăn, ở, học tập nhằm cho 02 cháu phát triển toàn diện về mọi mặt. Nên giao 02 cháu K3Đình Đ cho ông K1 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp. Vì ông K1 vắng mặt, nên không ghi nhận được ý kiến về vấn đề cấp dưỡng cho con chung. Vì lợi ích mọi mặt của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà K không ai được quyền cản trở.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Do ông K1 vắng mặt không lý do, nên chưa ghi nhận được ý kiến của ông K1 về vấn đề này. Nên, tách thành vụ án khác để giải quyết, nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp.

[6] Về án phí: Bà K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự,

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tống Thị K với ông Đỗ Văn K4.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Tống Thị K được ly hôn với ông Đỗ Văn K1.

Về con chung: Ông Đỗ Văn K1 được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Đỗ Thái K3, (nam), sinh ngày 25/01/2014 và Đỗ Đình Đ, (nữ), sinh ngày 04/9/2016 đến tuổi trưởng thành.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho bà K không ai được quyền cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Về tài sản chung và nợ chung: Tách thành vụ án khác để giải quyết, nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp.

Về án phí: Bà Tống Thị Kim c 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà K đã nộp theo biên lai số 0004576 ngày 12/3/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn thành tiền án phí.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND quận Ô Môn;
  • - Chi cục THADS quận Ô Môn;
  • - UBND P. Long Hưng, Q. Ô Môn, CT;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Quốc Kiệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger