TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA –TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 10/9/2024
V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hạ Tuấn và ông Đặng Viết Côi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 126/2024/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: bà Lương Thị T – sinh năm: 1968
- HKTT: Thôn K, xã Đ, huyện Ứ, TP .
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng Đ – sinh năm: 1966
- HKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Ứ, TP .
(Đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn ly hôn, biên bản lấy lời khai, biên bản hoà giải bà Lương Thị T là nguyên đơn trình bày:
Về tình cảm: Bà kết hôn với ông Nguyễn Hồng Đ trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã Đ năm 2002. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được 4 năm thì phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là do không hiểu nhau và không có cùng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau. Do áp lực, mệt mỏi nên ông bà đã sống ly thân gần 20 năm nay. Trong thời gian sống ly thân, rất nhiều lần ông bà nói chuyện để hiểu và thông cảm cho nhau để về sống chung và cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng không có kết quả. Mặc dù vợ chồng không sống cùng nhau nhưng bà làm gì ông cũng gây sự chửi bới, đánh đập, ai đến nhà có việc nọ việc kia, ông nghe người ta nói lại ông cũng gọi điện chửi bới bà. Từ nhiều năm nay, ông bà không có bất cứ thứ gì chung, đến việc đi đám cưới cũng mỗi người một phong bì mừng. Cuộc sống hôn nhân của bà rất mệt mỏi và kéo dài nhiều năm nay. Nay các con đã lớn, bà nhận thấy không còn tình cảm với ông Đ nữa, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nhiều năm nay nên bà cương quyết xin ly hôn. Mong Toà án xem xét giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Hồng Đ để bà sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: ông bà có 02 con chung là cháu Nguyễn Hà T1 – sinh ngày: 09/4/2003 và cháu Nguyễn Hồng Đ1 – sinh ngày: 11/8/2013. Hiện tại, cháu T1 đã trưởng thành, khoẻ mạnh không đề nghị Toà án giải quyết. Khi ly hôn, bà có nguyện vọng được nuôi cháu Hồng Đ1 và không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công sức, công nợ chung: Bà không đề nghị Toà án giải quyết.
Về án phí: bà T tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hoà giải bị đơn ông Nguyễn Hồng Đ có quan điểm trình bày: Ông kết hôn với bà T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ năm 2002. Qúa trình chung sống vợ chồng ông không có mâu thuẫn gì, chỉ là mâu thuẫn mẹ chồng, nàng dâu nên bà T đưa các con về nhà mẹ đẻ ở thôn K, xã Đ, còn ông ở thôn T, xã Đ chăm sóc mẹ già. Tuy vợ chồng không sống chung gần 20 năm nay nhưng ông vẫn qua lại chăm sóc vợ và các con bình thường. Đến Tết năm 2024, do có mâu thuẫn nên ông bà hoàn toàn không hỏi han, quan tâm đến nhau nữa. Nguyên nhân là do ông nghi ngờ bà T có quan hệ với người khác, ông cũng góp ý nhiều nhưng bà T có quan điểm: ông bà không ở cùng nhau, không ăn cùng nhau gần 20 năm nay, nay bà muốn được giải thoát nên bà làm đơn ly hôn với ông. Quan điểm của ông, lúc đầu đồng ý ly hôn để giải thoát cho bà T. Sau đó, ông thay đổi quan điểm không đồng ý ly hôn vì ông còn tình cảm với bà và các con ông không muốn bố mẹ ly hôn. Về con chung: ông bà có 02 con chung như bà T trình bày là đúng, hiện tại, cháu Nguyễn Hà T1 – sinh năm: 2003 đã trưởng thành, khoẻ mạnh nên không đề nghị Toà án giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Hồng Đ1 – sinh năm: 2013, ông có nguyện vọng được nuôi cháu Đ1 và yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng, kể từ khi Toà án có bản án/ Quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật. Về tài sản, công sức, công nợ chung: ông bà không có công nợ. Về tài sản chung: Ông Đ trình bày có 01 thửa đất do bà T mua năm 2004 – 2005 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 01 ngôi nhà cấp 4 xây trên đất bà T mua và các vật dụng trong gia đình. Khi ly hôn, đề nghị chia đôi.
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xã Đ xác định: ông Đ và bà T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, ngày 11/7/2002. Sau khi kết hôn, ông Đ và bà T chung sống với nhau được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Bà T đưa con về K, xã Đ cho đến nay, còn ông Đ sống cùng gia đình ở thôn T, xã Đ. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, địa phương không nắm rõ nhưng thực tế ông bà không sống cùng nhau gần 20 năm nay. Trong thời kỳ hôn nhân, ông bà có 02 con chung là cháu Nguyễn Hà T1 – sinh ngày: 09/4/2003 và cháu Nguyễn Hồng Đ1 – sinh ngày: 11/8/2013. Hiện tại, cháu T1 đã trưởng thành, khoẻ mạnh. Cháu Đ1 đang sinh sống cùng bà T ở thôn K, xã Đ. Quan điểm của chính quyền địa phương: Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Tại phiên toà, bà T và ông Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên ý kiến không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác.
Quan điểm của Viện kiểm sát về thủ tục tố tụng: Qua việc kiểm sát hồ sơ và tại phiên tòa thấy đều đúng và đầy đủ về quan hệ pháp luật, về thẩm quyền, về người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng, việc thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản, thời hạn chuẩn bị xét xử, đưa vụ án ra xét xử. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông Đ. Về con chung: giao cháu Nguyễn Hồng Đ1 – sinh ngày: 11/8/2013 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; cháu Nguyễn Hà T1 đã trưởng thành, khoẻ mạnh không đề nghị giải quyết. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Đ. Về tài sản, công sức, công nợ chung: không đặt ra giải quyết, trường hợp các đương sự có yêu cầu thì được giải quyết bằng một vụ án khác. Bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét nhận thấy:
- Về tố tụng: Bà Lương Thị T đã làm đơn ly hôn theo mẫu và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình bị đơn là ông Nguyễn Hồng Đ có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã Đ, huyện Ứ, TP . nên Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Trong quá trình giải quyết vụ án toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập các đương sự đến toà án làm việc theo đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà hôm nay, các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.
- Về hôn nhân: bà T và ông Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Tuy nhiên, ông bà chỉ sống chung cùng nhau một thời gian ngắn sau đó do phát sinh mâu thuẫn nên bà T đưa con về K, Đ. Ông Đ có quan điểm dù vợ chồng không sống cùng nhà gần 20 năm nhưng ông vẫn quan tâm, đi lại chăm sóc vợ con. Ông Đ không đồng ý ly hôn; Bà T có quan điểm, vợ chồng sống ly thân gần 20 năm nay, giữa hai ông bà không có gì chung, thậm chí một đám cưới hai ông bà mỗi người một phong bì mừng, nhiều năm nay bà không quan hệ, qua lại phía anh em nhà chồng. Bà T mong muốn được ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông Đ và bà T đăng ký kết hôn hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống chung nhiều năm nay không hoà thuận, hạnh phúc, tuy là vợ chồng nhưng không chung sống cùng nhau, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau. Cuộc sống hôn nhân của ông bà không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của bà T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình;
- Về con chung: ông bà có 02 con chung là cháu Nguyễn Hà T1 – sinh ngày: 09/4/2003 và Nguyễn Hồng Đ1 – sinh ngày: 11/8/2013. Hiện tại, cháu T1 đã trưởng thành, khoẻ mạnh không đề nghị Toà án giải quyết. ông Đ và bà T đều có quan điểm xin nuôi cháu Đ1. Quan điểm của cháu Đ1 cxin được ở với mẹ T. Hội đồng xét xử nhận thấy: từ trước đến nay, cháu Đ1 vẫn ở với bà T, nguyện vọng của cháu cũng mong muốn được ở với mẹ. Xét nguyện vọng của con chưa thành niên, xét tình hình thực tế cuộc sống của cháu Đ1, để đảm bảo việc chăm sóc cháu Đ1 được tốt nhất cần giao bà T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà T không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về tài sản, công sức và công nợ: Bà T không yêu cầu giải quyết. Trong bản tự khai và biên bản lấy lời khai, ông Đ có trình bày đề nghị giải quyết chia tài sản chung. Quá trình làm việc, Toà án hướng dẫn, yêu cầu ông Đ làm đơn và nộp các tài liệu chứng cứ cho yêu cầu chia tài sản chung của ông nhưng ông không thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để giải quyết yêu cầu này. Trường hợp sau này các đương sự có yêu cầu đề nghị thì sẽ giải quyết tại vụ án khác.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Bà T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 56; 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 01/2024/ NQ-HĐTP của TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị T:
- Chị Bà Lương Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Hồng Đ;
- Về con chung: Bà T và ông Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Hà T1 – sinh ngày: 09/4/2003 và Cháu Nguyễn Hồng Đ1 – sinh ngày:11/8/2013. Cháu T1 đã trưởng thành, khoẻ mạnh Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Sau khi ly hôn, giao bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hồng Đ1 cho đến khi con chung trưởng thành, khoẻ mạnh hoặc khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Đ cho đến khi con chung trưởng thành, khoẻ mạnh hoặc khi có sự thay đổi khác.
Về quyền thăm hỏi con chung: “Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”
“Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”
- Về tài sản, công sức, công nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Trường hợp sau này, các đương sự có yêu cầu đề nghị thì sẽ giải quyết tại vụ án khác.
- Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ bà T đã nộp tại Biên lai thu số 0011723 ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thanh Minh |
Bản án số 45/2024/HNGĐ - ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 45/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T
