|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NH TỈNH KH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST Ngày 10 tháng 5 năm 2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NH, TỈNH KH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chung
Bà Lê Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã NH, tỉnh KH.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã NH, tỉnh KH tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ngân- Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã NH, tỉnh KH xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 703/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40A/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1984
Nơi cư trú: Thôn P, xã NT, thị xã NH, tỉnh KH; Vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Vĩnh Th, sinh năm 1980
Nơi cư trú: Thôn PT, xã ND, thị xã NH, tỉnh KH. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc T trình bày: Bà và ông Nguyễn Vĩnh Th tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ND vào năm 2017. Quá trình chung sống, đã có với nhau hai con chung là Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh ngày 13/5/2009 và Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 23/01/2013. Thời gian chung sống, ông bà thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng thường xuyên kình cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Bà đã cố gắng chịu đựng, nhiều lần bỏ qua cho ông Th để vợ chồng hàn gắn tình cảm và cùng nhau nuôi dạy con nhưng ông Th không thay đổi nên vợ chồng không còn chung sống cùng nhau nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Vĩnh Th.
- Về con chung: Bà yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung chưa thành niên và không yêu cầu ông Th phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Nguyễn Vĩnh Th: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục triệu tập, xác minh, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án đối với ông Th nhưng ông Th không đến Tòa án để giải quyết vụ án và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không thu thập được lời khai và ý kiến của ông Nguyễn Vĩnh Th đối với các vấn đề cần giải quyết của vụ án.
Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập được gồm: Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); Giấy khai sinh cháu Tr, cháu T1 (bản sao); Căn cước công dân Trần Thị Ngọc T, Nguyễn Vĩnh Th (bản sao); biên bản xác minh tình trạng hôn nhân; biên bản xác minh hộ khẩu thường trú của ông Nguyễn Vĩnh Th; biên bản niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án.
* Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã NH, tỉnh KH phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định.
- Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Trần Thị Ngọc T được ly hôn với ông Nguyễn Vĩnh Th; Về con chung: Bà T xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh ngày 13/5/2009 và Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 23/01/2013, bà không yêu cầu ông Th phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của cháu Tr và cháu T1 nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận; Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn ông Nguyễn Vĩnh Th, nơi cư trú: Thôn PT, xã ND, thị xã NH, tỉnh KH nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã NH, tỉnh KH theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc T và ông Nguyễn Vĩnh Th tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã ND cấp giấy chứng nhận kết hôn số 32, ngày 15 tháng 8 năm 2017 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, bà và ông Th thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên kình cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Bà đã cố gắng chịu đựng, nhiều lần bỏ qua cho ông Th để vợ chồng hàn gắn tình cảm và cùng nhau nuôi dạy con nhưng ông Th không thay đổi, ông bà không còn chung sống cùng nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Bà T xác nhận không còn tình cảm với ông Th nên yêu cầu được ly hôn với ông; Bị đơn ông Nguyễn Vĩnh Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án, chứng tỏ ông Th có thái độ bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ gia đình với bà T. Như vậy, có thể thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông Th đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận và bền vững không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của bà Thủy là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận
[3] Về con chung: Bà Trần Thị Ngọc T và ông Nguyễn Vĩnh Th có hai con chung chưa thành niên là Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh ngày 13/5/2009 và Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 23/01/2013. Bà T xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung chưa thành niên và không yêu cầu ông Th phải cấp dưỡng nuôi con chung; Cháu Tr, cháu T1 có nguyện vọng được với với bà T. Xét thấy, yêu cầu của bà T là có cơ sở, phù hợp với nguyện vọng của cháu Tr, cháu T1 và phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Ngọc T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Xét quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã NH là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc T được ly hôn ông Nguyễn Vĩnh Th.
1.2. Về con chung: Giao hai con chung chưa thành niên là Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh ngày 13/5/2009 và Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 23/01/2013 cho bà Trần Thị Ngọc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà T không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Nguyễn Vĩnh Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì quyền lợi của con, khi cần thiết, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Ngọc T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0001497 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã NH. Bà Trần Thị Ngọc T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Quy định chung: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Trung |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Chung |
Lê Thị Hoa |
Nguyễn Viết Trung |
5
Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NH, TỈNH KH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NH, TỈNH KH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Ngọc Thảo - Nguyễn Vĩnh Thụy - Ly hôn
