|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST |
|
|
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 |
|
|
V/v: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vi Thị Hương Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Giáp Hồng Thanh;
- Ông Nguyễn Lâm Giang;
Thư ký phiên toà: Ông Ngô Văn Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 73/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Chu Thị K, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (có đơn xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Hoàng Tiến D, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/3/2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai chị Chu Thị K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Hoàng Tiến D kết hôn trên cơ sở có tìm hiểu, tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán năm 2002 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang ngày 18 tháng 10 năm 2002, sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay. Trong quá trình chúng sống thời gian đầu có hòa thuận, hạnh phúc. Sau đó trong cuộc sống vợ chồng có xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân không hợp nhau, bất hòa quan điểm, anh D cặp bồ về nhà đánh đập chị dẫn đến vợ chồng cãi, chửi nhau. Tuy nhiên đến ngày 04 tháng 10 năm 2023 mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng hơn, do không thể chung sống cùng nhau được nên chị đã không ở cùng anh D, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn D1.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có 03 con là Hoàng Tiến P, sinh ngày 13/11/2004, Hoàng Đức L, sinh ngày 04/11/2007, Hoàng Trọng H, sinh ngày 25/8/2018. Hiện nay cháu P đã trên 18 tuổi, không yêu cầu Toà án giải quyết. Còn cháu L, cháu H đang ở cùng anh D1, nay chị không có nơi ở, bố mẹ đẻ đều đã chết, ly hôn chị giao cho anh D1 trực tiếp nuôi hai con là Hoàng Đức L, Hoàng Trọng H.
Cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vấn đề khác không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, tại phiên toà bị đơn anh Hoàng Tiến D trình bày:
Về thời gian, điều kiện kết hôn như chị Chu Thị K trình bày là đúng, anh và chị K kết hôn tự nguyện, tìm hiểu, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán năm 2002 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang ngày 18 tháng 10 năm 2002, sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay. Sau đó vợ chồng có đi làm ăn kinh tế ở huyện E, tỉnh Đắk Lắk, đến đầu năm 2021 vợ chồng làm ăn kinh tế chưa ổn định nên anh lên S để kiếm thêm thu nhập cho gia đình, còn chị K và các con sống ở Đ. Sau đó anh cùng hai con về sống cùng bố mẹ anh ở quê, anh có gọi chị K về nhà nhưng đến tháng 8 năm 2023 chị K về và sống cùng anh và hai con tại nhà của bố mẹ anh, tháng 10 năm 2023, chị K về nhà được hơn hai tháng tự bỏ nhà đi, anh và gia đình không biết chị Kim b đi đâu từ đó cho đến nay. Nguyên nhân muâu thuẫn vợ chồng như chị K trình bày là không đúng, anh không cặp bồ, hay đánh đập chị K, theo anh biết chị kim tự bỏ nhà đi theo trai, từ khi chị Kim b đi đã cắt đứt mọi liên lạc và không có trách nhiệm với chồng, các con, gia đình anh, chị Kim b đi có mang theo tiền bán đất và tiền của vợ chồng, đến nay chị K không có ý kiến gì. Nay chị Chu Thị Kim x ly hôn anh không nhất trí ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh có 03 con là Hoàng Tiến P, sinh ngày 13/11/2004, hiện đang đi học tại S, hiện nay cháu P đã trên 18 tuổi, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Hai con là Hoàng Đức L, sinh ngày 04/11/2007, Hoàng Trọng H, sinh ngày 25/8/2018, hai con khoẻ mạnh và đang ở cùng anh tại nhà bố mẹ đẻ anh, nếu chị K không đồng ý nuôi con thì anh cũng không đồng ý nuôi con, nếu anh nuôi con, chị Kim k nuôi con cấp dưỡng cho hai con một lần cho đến khi cháu L, cháu H đủ 18 tuổi, về con chung anh yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh có phát triển được một số tài và nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ bố mẹ đẻ anh, tiền anh đi làm đưa cho chị K, khi chị Kim b đi mang theo toàn bộ tiền bán đất, tiền anh chuyển khoản cho chị K, anh chưa có ý kiến gì về yêu cầu này.
Về nợ: Tại phiên toà anh D trình bày, vợ chồng anh nợ nhiều người đến nay chưa trả, anh chưa có ý kiến gì yêu cầu này.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự Tố tụng. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của BLTTDS; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/206, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Chu Thị K được ly hôn với anh Hoàng Tiến D.
Về con chung: Giao cháu Hoàng Đức L, cháu Hoàng Trọng H cho anh Hoàng Tiến D nuôi dưỡng;
Về cấp dưỡng nuôi con: chị Chu Thị K có trách nhiệm cấp dưỡng cho con chung hơn 1.000.000đ/ 1 con/ tháng theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, công nợ: Chị K không yêu cầu Toà án giải quyết, tại phiên toà anh D trình bày còn một số công nợ chung, nhưng sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị Chu Thị K phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Hoàng Tiến D có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang là đúng qui định.
[1.2]. Về quan hệ pháp luật: chị Chu Thị K có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về tranh chấp hôn nhân và gia đình với anh Hoàng Tiến D nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
[1.3].Về sự vắng mặt của nguyên đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo tài tài liệu có trong hồ sơ vụ án, biên bản xác minh, biên bản làm việc cho thấy: Chị Chu Thị K và anh Hoàng Tiến D kết hôn trên cơ sở tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang ngày 18/10/2002, do vậy hôn nhân giữa chị K, anh D là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng anh D, chị K có hoà thuận, hạnh phúc. Sau đó vợ chồng chị K, anh D có mẫu thuẫn xẩy ra, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, anh D và chị K đều thừa nhận chị K đã đi khỏi nhà từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay và đã cắt đứt liên lạc với anh D đây là tình tiết được các đương sự thừa nhận không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị K xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Tiến D, phía bị đơn anh D cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn trầm trọng, chị Kim t bỏ nhà đi, đối với yêu cầu ly hôn của chị Kim a D không nhất trí. Từ những phân tích nêu trên, xét thấy cuộc sống vợ chồng anh D, chị K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài cần xử chấp nhận cho chị Chu Thị K được ly hôn với anh Hoàng Tiến D là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị Chu Thị K và anh Hoàng Tiến D có 03 con là Hoàng Tiến P, sinh ngày 13/11/2004; Hoàng Đức L, sinh ngày 04/11/2007; Hoàng Trọng H, sinh ngày 25/8/2018.
Đối với con chung là Hoàng Tiến P đã trên 18 tuổi, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Anh Hoàng Tiến D yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, ly hôn chị Chu Thị Kim g anh D nuôi hai con, thời điểm vợ chồng chị K, anh D ly thân anh D trực tiếp hai nuôi con, tại phiên toà con chung Hoàng Đức L có nguyện vọng ở cùng bố, nhận thấy quyền và trách nhiệm nuôi con giữa anh D, chị K là như nhau, để giảm gánh nặng cho anh D về việc anh D nuôi hai con nên cần xử: Giao cho anh Hoàng Tiến D trực tiếp nuôi nuôi con là Hoàng Đức L, sinh ngày 04/11/2007, Giao cho chị Chu Thị K trực tiếp nuôi con là Hoàng Trọng H, sinh ngày 25/8/2018 là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, công nợ: Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai chị K không yêu cầu giải quyết về tài sản, bản tự khai anh D tự thoả thuận, tại phiên toà anh D trình bày về tài sản chung, về số nợ nhưng không có yêu cầu gì. Sau này chị K, anh D có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ án khác, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chị Chu Thị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Chu Thị K được ly hôn với anh Hoàng Tiến D.
- Về con chung: Giao cho anh Hoàng Tiến D trực tiếp nuôi dưỡng con là Hoàng Đức L, sinh ngày 04/11/2007; Giao cho chị Chu Thị K trực tiếp nuôi dưỡng con là Hoàng Trọng H, sinh ngày 25/8/2018.
Sau khi ly hôn, anh D, chị K được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh D, chị K thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc chị Chu Thị K phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ chị K đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006745 ngày 12 tháng 3 năm 2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vi Thị Hương Giang |
Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
