Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 09 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Huy Phúc
Ông Nguyễn Duy Sự

- Thư ký phiên toà: Bà Vi Thị Luyến – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm số hóa công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đặng Thị H, sinh ngày 24/7/1980 tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn K, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn H1, sinh năm 1939 (đã chết) và bà: Đặng Thị C, sinh năm 1939; có chồng: Bàn Văn V, sinh năm 1978 và 03 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  1. Bàn Văn V, sinh ngày 17/8/1978 tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn K, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bàn Văn Q, sinh năm 1956 và bà: Bàn Thị L, sinh năm 1957; có vợ: Đặng Thị H, sinh năm 1980 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 51/QĐ-XPHC ngày 08/4/2009 của Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 1.000.000đ về hành vi đánh bạc. Ngày 17/4/2009 đã nộp xong tiền phạt.

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 159/QĐ-XPHC ngày 18/5/2021 của Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 1.250.000đ về hành vi đánh bạc. Ngày 26/10/2021 đã nộp xong tiền phạt.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Thị H: Ông Nông Văn V1 – Luật sư Công ty L1. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Bàn Văn V: Ông Vũ Quang B – Luật sư Công ty L1. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Khu dân cư L, tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

- Nguyên đơn dân sự: Ban Q1

Địa chỉ: Thôn D Làng B, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Hồng P – Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nông Giang N – Chức vụ: Phó giám đốc.

(Ông N vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 11 năm 2023, Đặng Thị HBàn Văn V do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đã nảy sinh ý định phát rừng để trồng cây. Trước ngày H đi chặt, phát rừng, vào buổi tối cuối tháng 11 năm 2023 sau khi ăn cơm xong H nói với V “nhà mình chưa có đất trồng giang thì có chỗ ở khu gần đất trước đây của ông bà thì lên phát lấy để trồng”, ý của H là bảo V cùng lên phát rừng ở khu vực thác K, xã Y. V đồng ý và nói “thế cứ làm trước đi, mai anh bận đi cúng xong anh lên sau”. Sáng hôm sau, H mang theo 01 con dao (bản dao bằng kim loại dài 28cm, bản rộng trung bình 3,5cm, chuôi dao tròn bằng gỗ dài 30cm, đường kính 03cm) đi lên khu vực thác K, thuộc thôn K, xã Y, huyện H phát các bụi cây nhỏ và chặt 02 búi nứa còn những cây gỗ to H để lại cho V sử dụng cưa xăng cắt đổ. Khoảng 02 ngày sau khi phát quang các cây nhỏ, H nói với V "mai anh lên đồi cắt hộ em mấy cây to để phát làm nương trồng cây giang nhé”, do đã biết từ trước nên V đồng ý. Sáng ngày hôm sau H mang theo con dao đã sử dụng hôm trước, V mang theo 01 máy cưa xăng màu cam, nhãn hiệu KIORITZECHO đi bộ lên khu vực rừng H đã phát trước đó, V sử dụng máy cưa xăng cắt đổ 22 cây gỗ, H sử dụng dao quắm phát các bụi cây cỏ còn lại đến buổi trưa thì đốt và hoàn thành việc phát rừng.

Ngày 29/01/2024, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng C1, huyện H nhận được đơn tố giác (nặc danh) về hành vi hủy hoại rừng của Đặng Thị H. Ngày 01/02/2024, Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng C1 tiến hành khám nghiệm hiện trường tại thôn K, xã Y, huyện H xác định: Diện tích rừng bị hủy hoại thuộc lô 30, khoảnh 14 trạng thái Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh phục hồi (ký hiệu TXP), loại rừng đặc dụng, có nhiều loại cây thân gỗ khác nhau bị chặt đổ có diện tích 1.180 m². Kết quả đo đếm thực tế xác định có 22 (hai mươi hai) cây gỗ các loại và 123 (một trăm hai mươi ba) cây nứa tép bị hủy hoại. Tổng khối lượng gỗ từ nhóm V đến nhóm VIII là 3,424m³.

Tại Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS, ngày 27/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện H kết luận: Trị giá tài sản 22 cây gỗ, gỗ thuộc nhóm V đến nhóm VIII khối lượng 3,424m³ có giá trị là 3.771.600đ (ba triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm đồng); 123 cây nứa tép có giá trị là 307.500đ (ba trăm linh bảy nghìn năm trăm đồng). Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại vụ hủy hoại rừng tại thời điểm tháng 11/2023 là 4.079.100đ (Bốn triệu không trăm bảy mươi chín nghìn một trăm đồng).

Tại Cáo trạng số 46/CT-VKSHY, ngày 11/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố các bị cáo Đặng Thị H, Bàn Văn V về tội “Huỷ hoại rừng” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo tội danh, điều luật đã nêu trong Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố các bị cáo Đặng Thị H, Bàn Văn V phạm tội “Huỷ hoại rừng”.

- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Thị H, Bàn Văn V mỗi bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 sáu tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm, kể từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự, ghi nhận các bị cáo đã bồi thường cho Ban Q2 số

tiền 4.079.100 đồng (Bốn triệu không trăm bảy mươi chín nghìn một trăm đồng) các bị cáo đã tạm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.

- Về vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 máy cưa xăng màu cam, nhãn hiệu KIORITZECHO không có xích đã qua sử dụng; tịch thu tiêu hủy 01 con dao đã qua sử dụng.

Giao cho Ban Q2 xử lý theo thẩm quyền đối với số cây gỗ đã bị chặt, đốt một phần còn lại tại hiện trường.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo vì các bị cáo thuộc hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn; đồng thời tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo và nguyên đơn dân sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các luật sư bào chữa cho các bị cáo nhất trí với tội danh và điều luật mà Kiểm sát viên đề nghị HĐXX áp dụng đối với các bị cáo. Về hình phạt, các bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo H có nhân thân tốt, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nên đề nghị HĐXX xử phạt các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H. Do các bị cáo đều thuộc diện hộ nghèo, là lao động tự do, không có tài sản gì có giá trị, bản thân là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị HĐXX miễn áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố đối với các bị cáo. Trình bày lời nói sau cùng, các bị cáo biết mình đã sai, vi phạm pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về việc xem xét hành vi của các bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Thị H, Bàn Văn V đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ngoài lời khai nhận của các bị cáo, hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng vật chứng thu giữ, biên bản xác minh, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, sơ đồ hiện trường, bảng kê lâm sản, kết luận định

giá tài sản, lời khai của nguyên đơn dân sự cùng toàn bộ những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng cuối tháng 11 năm 2023, Đặng Thị HBàn Văn V đã có hành vi huỷ hoại rừng tại lô 30, khoảnh 14 khu vực thác K thuộc thôn K, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, với diện tích 1.180m² chức năng rừng đặc dụng do Ban Q2, huyện H quản lý; lâm sản bị thiệt hại gồm cây gỗ, cây nứa tép; tổng số lượng 22 cây gỗ thuộc loài thông thường, từ nhóm V đến nhóm VIII, khối lượng 3,424m³ và 123 cây nứa tép. Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại vụ hủy hoại rừng là 4.079.100 đồng (Bốn triệu không trăm bảy mươi chín nghìn một trăm đồng).

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Huỷ hoại rừng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện H truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, vi phạm pháp luật hình sự. Các bị cáo đều là người có đầy đủ khả năng nhận thức, đã được tuyên truyền về Luật bảo vệ và Phát triển rừng, đều nhận thức được hành vi phá rừng tại khu vực rừng đặc dụng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng đã cùng nhau thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo đã xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, xâm hại đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái, làm mất ổn định trật tự, trị an trên địa bàn nên cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử các bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 4.079.100 đồng (Bốn triệu không trăm bảy mươi chín nghìn một trăm đồng) vào tài khoản của cơ quan Thi hành án để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức còn hạn chế, các bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của UBND xã Y nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H là người có nhân thân tốt; bị cáo V đã bị xử phạt vi phạm hành

chính về hành vi Đánh bạc nhưng tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Xét thấy các bị cáo đều có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú ổn định, đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo nên không cần phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục các bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội.

Hội đồng xét xử thấy rằng trong vụ án này các bị cáo là vợ chồng, phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, thực hiện hành vi phạm tội với vai trò không đáng kể. Mặt khác khi lượng hình cũng cần xem xét nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo: Do gia đình các bị cáo là hộ nghèo, kinh tế khó khăn, cũng vì mưu sinh nên mới phá rừng để trồng cây giang nhằm mục đích kiếm thêm thu nhập. Vì vậy, mức hình phạt mà đại diện VKSND huyện H đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp nên cần chấp nhận.

Trong thời gian thử thách, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Nếu trong thời gian này, các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì các bị cáo phải chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa thể hiện các bị cáo thuộc diện hộ nghèo, đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 243 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

[4] Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, cơ quan Điều tra thu giữ của bị cáo V 01 chiếc cưa xăng không có xích, thu giữ của bị cáo H 01 con dao. Hội đồng xét xử thấy rằng chiếc cưa xăng là công cụ bị cáo V trực tiếp sử dụng để phá rừng trái phép, vẫn còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với con dao cũng là công cụ để bị cáo H phục vụ cho việc phá rừng trái phép nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số cây gỗ đã bị chặt, đốt một phần còn lại tại hiện trường, cơ quan điều tra đã bàn giao cho Ban Q2, huyện H quản lý nên cần tiếp tục giao cho Ban Q2 xử lý theo thẩm quyền.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, các bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 4.079.100 đồng (Bốn triệu không trăm bảy mươi chín nghìn một trăm đồng) vào tài khoản của cơ quan Thi hành án để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho Ban Q2, Hội đồng xét xử thấy rằng cần ghi nhận sự tự nguyện này giữa các bên.

[7] Về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, tại phiên tòa các bị cáo có đơn đề nghị được miễn án phí do thuộc hộ nghèo; là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí cho các bị cáo. Các bị cáo và nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố các bị cáo Đặng Thị H, Bàn Văn V phạm tội “Huỷ hoại rừng”.

  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự:
    • - Xử phạt bị cáo Đặng Thị H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/8/2024).
    • - Xử phạt bị cáo Bàn Văn V 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/8/2024).

    Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 máy cưa xăng màu cam, nhãn hiệu KIORITZECHO không có xích đã qua sử dụng; tịch thu tiêu hủy 01 con dao đã qua sử dụng (Tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/7/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang).

    Giao cho Ban Q2 xử lý theo thẩm quyền đối với số cây gỗ đã bị chặt, đốt một phần còn lại tại hiện trường (Tình trạng như trong Biên bản bàn giao ngày 02 tháng 02 năm 2024 giữa Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng C1Ban Q2).

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự, ghi nhận các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho Ban Q2 số tiền 4.079.100 đồng (Bốn triệu không trăm bảy mươi chín nghìn một trăm đồng) các bị cáo đã tạm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang tại Biên lai thu tiền số 0000525 ngày 11/7/2024. Sung Ngân sách nhà nước số tiền nêu trên.
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • - Nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Huy Phúc- Nguyễn Duy Sự

Hoàng Thị Minh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG về huỷ hoại rừng

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Huỷ hoại rừng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị H - Bàn Văn V phạm tội Huỷ hoại rừng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger