TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/DS-ST
Ngày: 09/7/2024
“V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Kha
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Hoành
- Ông Nguyễn Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2024/TLST-DS, ngày 09 tháng 4 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2024/QÐST-DS, ngày 26/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1977 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Phúc N, sinh năm 1991- Là đại diện ủy quyền, theo văn bản ủy quyền ngày 07/5/2024 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Lê Văn S, sinh năm 1968 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/02/2024, quá trình giải quyết người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Trần Văn T, ông Dương Phúc N, trình bày: Vào ngày 18 tháng 5 năm 2023 ông Lê Văn S có thỏa thuận là ông S sẽ đi mua lúa của dân rồi đem giao bán lại cho ông T. Ông T và ông S thỏa thuận với nhau là ông S sẽ bán cho ông T tổng cộng 150 tấn lúa trong đó 50 tấn lúa với giá 6.200 /Kg và 100 tấn lúa với giá 6.300đồng/Kg. Việc thỏa thuận chỉ bằng miệng không lập thành hợp đồng vì ông T và ông S là bà con với nhau. Và cũng vào ngày 18 tháng 5 năm 2023 ông T có đưa cho ông S số tiền là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) với mục đích đặt cọc tiền mua lúa. Việc nhận tiền này thì ông S có viết biên nhận cho ông T với nội dung “Chú S nhận tiền cọc Triệu 40.000.000 đồng Bốn chục triệu đồng chẵn”. Sau khi nhận tiền của ông T khoảng một tháng sau thì ông S có giao cho được 32 tấn lúa với giá 6.800 đồng/Kg. Chỉ giao lúa một lần duy nhất. Cân lúa tới đâu ông T trả tiền mặt đủ cho những người dân bán lúa đến đó chứ không cấn trừ vào tiền đặt cọc đã giao cho ông S. Sau đó ông S không tiếp tục giao 118 tấn lúa còn lại cho ông T nữa nên ông T có hỏi ông S lý do thì ông S chỉ hứa hẹn cho qua loa. Sau đó, vì không có lúa nên ông T không yêu cầu ông S tiếp tục giao lúa nữa và ông T yêu cầu trả lại số tiền đặt cọc là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Tuy nhiên, ông S vẫn không trả. Ông T có yêu cầu Ban N1, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng hòa giải. Đến ngày 25/02/2023 thì Ban nhân dân ấp 16/1 tổ chức hòa giải thì ông S thừa nhận còn nợ ông T số tiền đã nhận cọc lúa là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) và ông S hứa sẽ trả ông T số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) với 02 lần như sau: Vào ngày 20/12/2023 âm lịch trả 20.000.000 đồng, lần 2 vào ngày 20/02/2024 âm lịch với số tiền 20.000.000 đồng. Tuy nhiên đến nay đã quá hạn nhưng ông S vẫn không trả. Ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Lê Văn S phải trả cho ông T số tiền cọc còn nợ 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
Bị đơn ông Lê Văn S, trình bày ý kiến: Ông thừa nhận hiện nay còn đang nợ ông Trần Văn T tiền cọc lúa 40.000.000 đồng do giữa ông và ông T có thỏa thuận mua bán lúa với nhau vào vụ lúa H – Thu năm 2023, ông sẽ bán cho ông T 150 tấn lúa OM 18 nhưng sau đó do nông dân làm lúa bị thất nên ông không đủ lúa giao cho ông T chỉ giao được 32 tấn, số lúa còn lại thì không giao nữa. Sau đó ông cũng không có trả lại tiền cọc cho ông T 40.000.000 đồng.
Tại buổi hòa giải tại ấp A ông có hứa trả cho ông T số tiền 40.000.000 đồng làm hai đợt nhưng sau đó ông không có khả năng nên có xin ông T trả đỡ 10.000.000 đồng trước phần còn lại sẽ trả từ từ nhưng ông T không đồng ý cho tới nay ông vẫn chưa trả cho ông T số tiền 40.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T yêu cầu ông trả số tiền 40.000.000 đồng thì ông cũng đồng ý trả nhưng hiện nay ông không có khả năng trả một lần nên xin được trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm nghị án, Hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn và người đại diện đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn Lê Văn S trả tiền cọc 40.000.000 đồng. Bị đơn phải chịu án phí theo qui định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các bên đương sự thỏa thuận đặt cọc để thực hiện hợp đồng mua bán lúa nên xác định hợp đồng đặt cọc theo quy định tại Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
[2] Về nội dung vụ án: Ông Trần Văn T yêu cầu bị đơn ông Lê Văn S trả lại tiền đặt cọc 40.000.000 đồng. Ông S thừa nhận có nợ tiền cọc lúa ông T 40.000.000 đồng đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Xét thấy sau khi nhận tiền cọc ông S có giao lúa nhưng không đủ phía ông T nhận lúa tới đâu trả tiền tới đó tuy nhiên cho tới nay ông S vẫn không giao trả tiền cọc lại cho ông T, ông triệu yêu cầu ông S trả lại tiền cọc là phù hợp với điều 328 Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về thời gian trả tiền: Bị đơn ông Lê Văn S xin trả mỗi tháng 500.000 đồng đến khi dứt nợ, tuy nhiên không được ông T đồng ý. Do các đương sự không thỏa thuận được thời gian trả nợ và thuộc thẩm quyền giai đoạn thi hành án dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[5] Qua phân tích như trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện T là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Bộ luật Tố tụng Dân sự. 328 BLDS
Áp dụng: Điều 328; Điều 468 Bộ luật Dân sự. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T về tranh chấp hợp đồng đặt cọc đối với bị đơn ông Lê Văn S. Buộc ông Lê Văn S phải có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn T số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí: Ông Lê Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 2.000.000 đồng. Ông T được hoàn lại tiền tạm ứng án phí là 1.000.000 đồng theo biên lai thu số 0003842 ngày 09/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Tuyết Kha |
Bản án số 45/2024/DS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 45/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trần văn triệu - lê văn sương
