Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08-8-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Hương
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Hà Thị Nga
    • Bà Nguyễn Thị Bích Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 556/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 666/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T; nơi cư trú: Số A H, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn L; ĐKHKTT: Số A H, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng. Hiện đang chấp hành án tại đội 23 phân trại số 1 Trại giam T1, huyện N, tỉnh thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ dân sự xin ly hôn, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị và anh Phạm Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, đám cưới tổ chức theo phong tục Việt Nam. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận L, thành phố Hải Phòng ngày 18/3/2009.

Sau khi kết hôn anh chị sống hòa thuận đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng xảy ra xô sát cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhiều nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng. Năm 2021 anh L bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm tù về tội Mua bán hàng cấm và đang chấp hành án tại Trại giam T1, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, sống chung không có hạnh phúc đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.

Về con chung: Anh chị có hai con chung là Phạm Thu H, sinh ngày 04/9/2009 và Phạm Đức H1, sinh ngày 20/12/2010. Ly hôn, đề nghị Tòa án giao hai con Phạm Thu H và Phạm Đức H1 cho chị nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn - anh Phạm Văn L trình bày như sau:

Anh và chị Nguyễn Thị T đã từng kết hôn và có tổ chức đám cưới, anh và chị T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận L, thành phố Hải Phòng vào năm 2009. Sau khi cưới cuộc sống chung vợ chồng anh chị vẫn hạnh phúc và không phát sinh mâu thuẫn nào. Anh vẫn còn tình cảm với chị T, quan điểm của anh vẫn mong muốn sau khi chấp hành án trở về cùng vợ chăm sóc các con để các con không phải thiệt thòi, để nuôi dạy các con nên người và có đầy đủ bố mẹ, anh không đồng ý ly hôn vì hiện tại anh đang phải chấp hành án ngày 02/9/2024 anh được sự khoan hồng của nhà nước được trở về với gia đình. Hiện tại anh đang chấp hành án tại trại giam T1, anh mong muốn tòa án hoãn phiên tòa giải quyết ly hôn đến khi anh chấp hành án xong để trở về hàn gắn tình cảm vợ chồng để chăm sóc và nuôi dạy các con.

Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản gì.

Tại phiên tòa, chị T giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Phạm Văn L. Về con chung: Giao hai con chung Phạm Thu H, sinh ngày 04/9/2009 và Phạm Đức H1, sinh ngày 20/12/2010 cho chị T nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về việc chia tài sản: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

[1] Chị T xin ly hôn anh L là vụ án tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Phạm Văn L cư trú trên địa bàn quận L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa, bị đơn anh Phạm Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng anh L vắng mặt lần thứ hai do đang chấp hành án tại trại giam T1 nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân:

[3] Chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận L, thành phố Hải Phòng ngày 18/3/2009. Vì vậy, hôn nhân giữa chị T và anh L là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống anh chị chung sống hòa thuận đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng xảy ra xô sát cãi nhau. Năm 2021 anh L bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm tù về tội Mua bán hàng cấm và hiện đang chấp hành án tại Trại giam T1, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

[4] Qua xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn chính là do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng xảy ra cãi nhau. Xét mâu thuẫn giữa chị T và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh L.

+ Về con chung:

[5] Anh chị có hai con chung là Phạm Thu H, sinh ngày 04/9/2009 và Phạm Đức H1, sinh ngày 20/12/2010. Ly hôn chị T đề nghị được nuôi hai con, anh L không có ý kiến gì về việc nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay anh L đang chấp hành án, còn chị T có chỗ ở, công việc thu nhập ổn định đủ để đảm bảo cuộc sống ổn định về kinh tế, từ khi anh L đi chấp hành án hai con vẫn ở cùng với chị và hai con đều có nguyện vọng được ở cùng với mẹ nên để chị T nuôi con sẽ đảm bảo quyền lợi của con. Vì vậy, cần áp dụng các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao hai con chung Phạm Thu H và Phạm Đức H1 cho chị T nuôi.

Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

+ Về tài sản chung:

[6] Chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về án phí:

[7] Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

[8] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Phạm Văn L.

- Về con chung: Giao hai con chung Phạm Thu H, sinh ngày 04/9/2009 và Phạm Đức H1, sinh ngày 20/12/2010 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0005807 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Phạm Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - UBND phường Cát Dài, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng (ĐKKH ngày 18/3/2009);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T- L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger