Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN Ô MÔN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 45/2024/HSST

Ngày 08 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN


Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Kiệt.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Nguyễn Văn Trãi;
    • Ông Ngô Minh Thi.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Dũng, Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân quận Ô Môn.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thạnh Hưng – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/HSST ngày 02 - 4 - 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST - HS ngày 22 - 4 – 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Duy L, sinh ngày 11/6/1983. Giới tính: Nam.

    Tên gọi khác: L1; Nơi sinh: Cần Thơ.

    ĐKHKTT: Khu vực T, phường T, quận Ô, TP

    Chỗ ở: Khu vực T, phường T, quận Ô, TP

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không;

    Con ông Nguyễn Duy S, sinh năm 1951 (sống) và bà Phan Thị P, sinh năm 1953 (sống);

    Anh chị em ruột có 02 người, sinh năm 1971 và 1981;

    Vợ Nguyễn Thị Thu O;

    Con 01 người, sinh năm 2010.

    Tiền án: 04 lần, đã được xóa án tích:

    • + Ngày 27/9/2002, bị Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xử phạt 30 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý, án phí 50.000 đồng. Ngày 14/7/2004 chấp hành xong án phạt tù. Theo xác nhận của Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều không có hồ sơ của người thi hành án Nguyễn Duy L.
    • + Ngày 26/8/2006, bị Toà án nhân dân huyện Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, phạt bổ sung 1.000.000 đồng, án phí sơ thẩm 50.000 đồng, án phí phúc thẩm 50.000 đồng. Ngày 16/6/2007 chấp hành xong án phạt tù và chấp hành đóng án phí.
    • + Ngày 06/7/2012, bị Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, án phí 200.000 đồng. Ngày 03/3/2014 chấp hành xong án phạt tù và chấp hành đóng án phí.
    • + Ngày 30/10/2014, bị Toà án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm 6 tháng tù, án phí 200.000 đồng. Ngày 31/01/2016 chấp hành xong án phạt tù và chấp hành đóng án phí.

    - Tiền sự: không.

    - Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 20/12/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ.

    (có mặt tại phiên tòa).

  2. Nguyễn Hữu Huy H, sinh ngày 28/3/1983. Giới tính: Nam.

    Nơi sinh: Hậu Giang.

    ĐKHKTT: Khu vực Thới Hưng, phường Long Hưng, quận Ô Môn, TP. Cần Thơ.

    Chỗ ở: Khu vực Thới Hưng, phường Long Hưng, quận Ô Môn, TP. Cần Thơ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không;

    Con ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1956 (sống) và bà Nguyễn Kim Hy V, sinh năm 1959 (sống);

    A, chị, em ruột: có 02 người, sinh năm 1986 và 1992;

    Vợ Huỳnh Thị ngọc T, sinh năm 1981;

    Con 01 người, sinh năm 2007.

    - Tiền án: không.

    - Tiền sự: 01 lần.

    • + Ngày 04/5/2020, bị Toà án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 15/6/2022. Chưa xoá tiền sự.
    • + Ngày 26/9/2023, bị Công an quận T, thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng. (không tính tiền sự).
    • + Ngày 28/9/2023, bị Ủy ban nhân dân phường T, quận T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng. (không tính tiền sự).
    • + Ngày 18/10/2023, bị Toà án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng, hiện đang chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma tuý thành phố Cần Thơ. (không tính tiền sự).

    - Bị cáo hiện đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma tuý thành phố Cần Thơ.

    (Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, TP

(Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Thanh N, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, TP ..

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bản cáo trạng số 51/CT-VKS-OM ngày 01/4/2024, của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn truy tố các bị cáo Nguyễn Duy L, Nguyễn Hữu Huy H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự:

Theo tin báo của ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1986, ĐKTT: khu vực B, phường T, quận Ô trình báo về việc vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/9/2023, ông T1 phát hiện tại bãi kiểng của ông tại khu vực H, phường T, quận Ô bị mất trộm tài sản gồm 01 máy cưa cầm tay có bộ lưỡi, 01 máy cưa cầm tay không có lưỡi và 01 máy mài (máy cắt) cầm tay.

Qua truy xét, ngày 26/9/2023 Cơ quan điều tra xác định đối tượng và mời làm việc đối với Nguyễn Duy LNguyễn Hữu Huy H. Tại Cơ quan điều tra, HL khai nhận là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên, cụ thể vào khoảng 08 giờ ngày 24/9/2023, do có hẹn nhau từ trước nên Nguyễn Hữu Huy H điều khiển xe mô tô loại Wave, gắn biển số 65H7-5859 đến Khu V, phường T, quận Ô để rước Nguyễn Duy L để đi đến quận Ô. Sau đó L điều khiển xe trên chở H ngồi sau đi từ hướng phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ đến phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ trên tuyến tránh Quốc lộ I, khi cả hai đi đến Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ thì H thấy vườn kiểng của anh Nguyễn Văn T1 có khóa cửa rào trước còn bên hông thì không có rào lại. H thấy không có người trông coi và bên trong vườn kiểng có máy cưa nên H mới rủ L trộm cắp tài sản thì L đồng ý. L dừng xe lại để H đi vào lấy trộm tài sản, H kêu L đứng ở ngoài thì L điều khiển xe đậu ở ngã tư để đợi. H một mình đi vào vườn kiểng lấy trộm được 01 (một) máy cưa hiệu Komatsu G3700 màu sơn đỏ, có bộ lưỡi cưa, 01 (một) máy cưa hiệu Shindaiwa 305 màu sơn: đỏ, không có bộ lưỡi cưa, 01 (một) máy mài (máy cắt) hiệu Bosch GMS 900W màu sơn: xanh, đã qua sử dụng. H trở ra thì L điều khiển xe lại chỗ H và cùng Hoàng đựng các tài sản trộm được vào một cái bao, rồi L điều khiển xe chở H theo hướng Quốc lộ I về quận T, khi vừa qua cầu B khoảng 50m phía bên trái có tiệm sửa máy tên là “NHÂN” thuộc Khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ thì H đem 02 máy cưa và 01 máy cắt cầm tay (máy mài) vừa trộm được bán với số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). H chia cho L 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền trên H sử dụng để mua ma tuý hết, còn L tự nguyện giao nộp lại 250.000 đồng tại Cơ quan điều tra.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số: 120/KL-HĐĐGTS ngày 05/10/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Ô1, kết luận: 01 (một) máy cưa hiệu Komatsu G3700 màu sơn đỏ, có bộ lưỡi cưa, đã qua sử dụng, Giá trị còn lại của tài sản: 2.833.000 đồng; 01 (một) máy cưa hiệu Shindaiwa 305 nàu sơn: đỏ, không có bộ lưỡi cưa, đã qua sử dụng, Giá trị còn lại của tài sản: 1.200.000 đồng; 01 (một) máy mài (máy cắt) hiệu Bosch GMS 900W màu sơn: xanh, đã qua sử dụng, Giá trị còn lại của tài sản: 500.000 đồng. Tổng giá trị của tài sản vào thời điểm xảy ra vụ trộm cắp tài sản (ngày 24/9/2023) là: 4.533.000 đồng (Bốn triệu năm trăm ba mươi ba ngàn đồng).

Đối với Nguyễn Hữu Huy H: vào ngày 26/9/2023 khi làm việc với Cơ quan điều tra đã tự nguyện giao nộp 01 (một) gói giấy bạc bên trong có chứa một gói ni lông hàn kín chứa các hạt tinh thể không màu nghi là ma tuý. Tại kết luận giám định số 308/KL-KTHS ngày 04/10/2023 của Phòng K, Công an thành phố C kết luận: tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0226 gam. Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý do khối lượng ma tuý không đủ định lượng và H chưa có tiền án, tiền sự liên quan nên không xử lý đối với Nguyễn Hữu Huy H.

Đối với Lê Thanh N, sinh năm 1977, ĐKTT: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ do lúc mua lại 02 máy cưa và 01 máy cắt từ H không biết được nguồn gốc tài sản là do trộm cắp mà có, đồng thời cũng đã tự nguyện giao nộp lại tài sản nên không xử lý đối với Lê Thanh N.

Đối với xe mô tô gắn biển số 65H7-5859 do Nguyễn Duy L giao nộp là phương tiện LH sử dụng để đi trộm cắp tài sản. Xe này L mua cách ngày xảy ra vụ việc khoảng 01 tuần của người bán phế liệu, không có giấy tờ. Qua xác minh biển số 65H7-5859 do chị Lê Nguyễn Triều T2, sinh năm 1984, ĐKTT: 216/10 đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ đứng tên đăng ký nhưng là loại xe ATTILA, hiện chị đã bán xe và không có yêu cầu gì. Tra cứu theo số khung, số máy thì chủ đăng ký xe là Võ Đình C, sinh năm 1970, ĐKTT: nhà số H, đường số A, tổ dân phố số F, phường A, quận F, thành phố Hồ Chí Minh nhưng biển số đăng ký là 51K4-3814, anh C đã bán xe này và không có yêu cầu gì.

Vật chứng:

  • - Thu của Nguyễn Hữu Huy H: 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ, có chữ “DKRS” đã qua sử dụng, 01 (một) áo sơ mi dài tay sọc trắng – đen, đã qua sử dụng, 01 (một) quần jean dài, màu xanh, đã qua sử dụng, 01 (một) đôi dép tổ ong, màu trắng, đã qua sử dụng, 01 (một) gói giấy bạc bên trong có một gói ni lông hàn kín chứa các hạt tinh thể không màu (khối lượng 0,026 gam, sau giám định là ma tuý loại Methamphetamine, đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
  • - Thu của Nguyễn Duy L: tiền Việt Nam 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng), 01 (một) áo thun nam, loại dài tay, màu xanh, đã qua sử dụng, 01 (một) quần vải loại ống dài, màu đen, đã qua sử dụng, 01 (một) nón bảo hiểm loại nửa đầu, màu xanh, đã qua sử dụng, 01 (một) đôi dép tổ ong màu trắng, đã qua sử dụng, 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S100, màu đỏ, không bửng, không chìa khoá, biển số 65H7-5859, đã qua sử dụng.
  • - Thu của Lê Thanh N: 01 (một) máy cưa hiệu Komatsu G3700 màu sơn đỏ, có bộ lưỡi cưa, đã qua sử dụng, 01 (một) máy cưa hiệu Shindaiwa 305 nàu sơn: đỏ, không có bộ lưỡi cưa, đã qua sử dụng, 01 (một) máy cắt cầm tay, màu xám, trên máy cắt có dãy số “0933 339 237” đã qua sử dụng. Đã xử lý vật chứng trả lại cho anh Nguyễn Văn T1 01 (một) máy cưa hiệu Komatsu G3700 màu sơn đỏ, có bộ lưỡi cưa, đã qua sử dụng, 01 (một) máy cưa hiệu Shindaiwa 305 nàu sơn: đỏ, không có bộ lưỡi cưa, đã qua sử dụng và anh Lê Thanh N 01 (một) máy cắt cầm tay, màu xám, trên máy cắt có dãy số “0933 339 237” đã qua sử dụng.
  • - 02 (hai) bao thư niêm phong chứa đĩa ghi hình hỏi cung bị can.
  • - 01 (một) bao thư niêm phong chứa đĩa có hình ảnh vụ trộm cắp tài sản ngày 24/9/2023.

Trách nhiệm dân sự: hiện nay anh Nguyễn Văn T1 đã nhận lại tài sản 01 (một) máy cưa hiệu Komatsu G3700 màu sơn đỏ, có bộ lưỡi cưa, đã qua sử dụng, 01 (một) máy cưa hiệu Shindaiwa 305 nàu sơn: đỏ, không có bộ lưỡi cưa, đã qua sử dụng, còn 01 (một) máy cắt cầm tay chưa thu hồi được anh yêu cầu các bị can bồi thường theo giá trị tài sản.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn phân tích lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập, có đủ cơ sở xác định các bị cáo Nguyễn Duy LNguyễn Hữu Huy H phạm tội Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, nên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt:

Nguyễn Duy L từ 01 năm 06 tháng đến đến 02 năm tù.

Xử phạt Nguyễn Hữu Huy H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại, nên không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 luật tố tụng hình sự.

  • - 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ, có chữ “DKRS” đã qua sử dụng, 01 (một) áo sơ mi dài tay sọc trắng – đen, đã qua sử dụng, 01 (một) quần jean dài, màu xanh, đã qua sử dụng, 01 (một) đôi dép tổ ong, màu trắng, đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Nguyễn Hữu Huy H, hiện không có giá trị sử dụng, bị cáo H không yêu cầu được nhận lại, nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (một) áo thun nam, loại dài tay, màu xanh, đã qua sử dụng, 01 (một) quần vải loại ống dài, màu đen, đã qua sử dụng, 01 (một) nón bảo hiểm loại nửa đầu, màu xanh, đã qua sử dụng, 01 (một) đôi dép tổ ong màu trắng, đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Nguyễn Duy L, hiện không có giá trị sử dụng, bị cáo L không yêu cầu được nhận lại, nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Tiền Việt Nam 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền bị cáo L thu lợi bất chính từ việc bán tài sản trộm cắp mà có, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Buộc bị cáo H phải nộp vào ngân sách Nhà nước sơ tiền thu lợi bất chính là 250.000 đồng.
  • - 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S100, màu đỏ, không bửng, không chìa khoá, biển số 65H7-5859, đã qua sử dụng, do bị cáo L mua từ người bán phế liệu, bị cáo dùng xe vào việc phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho anh Nguyễn Văn T1 01 (một) máy cưa hiệu Komatsu G3700 màu sơn đỏ, có bộ lưỡi cưa, đã qua sử dụng, 01 (một) máy cưa hiệu Shindaiwa 305 nàu sơn: đỏ, không có bộ lưỡi cưa, đã qua sử dụng và anh Lê Thanh N 01 (một) máy cắt cầm tay, màu xám, trên máy cắt có dãy số “0933 339 237” đã qua sử dụng.
  • - 02 (hai) bao thư niêm phong chứa đĩa ghi hình hỏi cung bị cáo; 01 (một) bao thư niêm phong chứa đĩa có hình ảnh vụ trộm cắp tài sản ngày 24/9/2023 được lưu vào hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đảm bảo theo quy định của pháp luật.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

Với mục đích kiếm tiền để tiêu xài cá nhân, các bị cáo Nguyễn Duy LNguyễn Hữu Huy H cùng bàn bạc và có hành vi lén lúc lấy trộm các tài sản của ông Nguyễn Văn T1 là 01 (một) máy cưa hiệu Komatsu G3700 màu sơn đỏ, có bộ lưỡi cưa, 01 (một) máy cưa hiệu Shindaiwa 305 màu sơn: đỏ, không có bộ lưỡi cưa, 01 (một) máy mài (máy cắt) hiệu Bosch GMS 900W màu sơn: xanh, đã qua sử dụng. Các tài sản sau khi được định giá, có giá trị 4.533.000 đồng. Các bị cáo là người đã thành niên có đủ khả năng nhận thức nên đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sực các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, khẳng định các bị cáo Nguyễn Duy LNguyễn Hữu Huy H phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Nên, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn đối với các bị cáo Nguyễn Duy LNguyễn Hữu Huy H là có căn cứ.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị có L tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, các bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo L có nhiều tiền án mặc dù đã xóa án tích, bị cáo H có tiền sự về ma túy, nhưng các bị cáo không tu dưỡng và rèn luyện bản than mà tiếp tục có hành vi phạm tội. Với hành vi và mức độ phạm tội của các bị cáo cần phải có một mức án nghiêm khắc tương xứng và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Các bị cáo có sự đồng phạm trong việc thực hiện hành vi phạm tội, nhưng đây chỉ là đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng thực hiện hành vi trộm và đem bán tài sản, nên khi lượng hình và quyết định hình phạt đối với các bị cáo ngang nhau là phù hợp.

Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại, nên không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 luật tố tụng hình sự.

  • - 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ, có chữ “DKRS” đã qua sử dụng, 01 (một) áo sơ mi dài tay sọc trắng – đen, đã qua sử dụng, 01 (một) quần jean dài, màu xanh, đã qua sử dụng, 01 (một) đôi dép tổ ong, màu trắng, đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Nguyễn Hữu Huy H, hiện không có giá trị sử dụng, bị cáo H không yêu cầu được nhận lại, nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (một) áo thun nam, loại dài tay, màu xanh, đã qua sử dụng, 01 (một) quần vải loại ống dài, màu đen, đã qua sử dụng, 01 (một) nón bảo hiểm loại nửa đầu, màu xanh, đã qua sử dụng, 01 (một) đôi dép tổ ong màu trắng, đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Nguyễn Duy L, hiện không có giá trị sử dụng, bị cáo L không yêu cầu được nhận lại, nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Tiền Việt Nam 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền bị cáo L thu lợi bất chính từ việc bán tài sản trộm cắp mà có, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Buộc bị cáo H phải nộp vào ngân sách Nhà nước sơ tiền thu lợi bất chính là 250.000 đồng.
  • - 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S100, màu đỏ, không bửng, không chìa khoá, biển số 65H7-5859, đã qua sử dụng, do bị cáo L mua từ người bán phế liệu, bị cáo dùng xe vào việc phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho anh Nguyễn Văn T1 01 (một) máy cưa hiệu Komatsu G3700 màu sơn đỏ, có bộ lưỡi cưa, đã qua sử dụng, 01 (một) máy cưa hiệu Shindaiwa 305 nàu sơn: đỏ, không có bộ lưỡi cưa, đã qua sử dụng và anh Lê Thanh N 01 (một) máy cắt cầm tay, màu xám, trên máy cắt có dãy số “0933 339 237” đã qua sử dụng.
  • - 02 (hai) bao thư niêm phong chứa đĩa ghi hình hỏi cung bị cáo; 01 (một) bao thư niêm phong chứa đĩa có hình ảnh vụ trộm cắp tài sản ngày 24/9/2023 được lưu vào hồ sơ vụ án.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Duy LNguyễn Hữu Huy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 20/12/2023).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Huy H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại, nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ, có chữ “DKRS” đã qua sử dụng, 01 (một) áo sơ mi dài tay sọc trắng – đen, đã qua sử dụng, 01 (một) quần jean dài, màu xanh, đã qua sử dụng, 01 (một) đôi dép tổ ong, màu trắng, đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Nguyễn Hữu Huy H;
  • - Tịch Thu tiêu hủy 01 (một) áo thun nam, loại dài tay, màu xanh, đã qua sử dụng, 01 (một) quần vải loại ống dài, màu đen, đã qua sử dụng, 01 (một) nón bảo hiểm loại nửa đầu, màu xanh, đã qua sử dụng, 01 (một) đôi dép tổ ong màu trắng, đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Nguyễn Duy L;
  • - Sung vào ngân sách Nhà nước tiền Việt Nam 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng) do bị cáo L tự nguyện giao nộp tiền thu lợi bất chính;
  • - Buộc bị cáo H phải nộp vào ngân sách Nhà nước sơ tiền thu lợi bất chính là 250.000 đồng;
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S100, màu đỏ, không bửng, không chìa khoá, biển số 65H7-5859, đã qua sử dụng;
  • - Các vật chứng được thể hiện theo Biên bản giao nhận giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01/04/2024 (BL 239).
  • - Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho anh Nguyễn Văn T1 01 (một) máy cưa hiệu Komatsu G3700 màu sơn đỏ, có bộ lưỡi cưa, đã qua sử dụng, 01 (một) máy cưa hiệu Shindaiwa 305 nàu sơn: đỏ, không có bộ lưỡi cưa, đã qua sử dụng và anh Lê Thanh N 01 (một) máy cắt cầm tay, màu xám, trên máy cắt có dãy số “0933 339 237” đã qua sử dụng.

02 (hai) bao thư niêm phong chứa đĩa ghi hình hỏi cung bị cáo; 01 (một) bao thư niêm phong chứa đĩa có hình ảnh vụ trộm cắp tài sản ngày 24/9/2023 được lưu vào hồ sơ vụ án.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Tòa án ND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND quận Ô Môn;
  • - Công an quận Ô Môn;
  • - Chi cục THADS quận Ô Môn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Quốc Kiệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HSST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 45/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt mỗi bị cáo 01 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger