Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG BÌNH


Bản án số: 45/2024/DS-PT

Ngày: 07 - 9 - 2024

V/v: Tranh chấp quyền sử

dụng đất

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Dương Viết Hải.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thái Sơn và bà Từ Thị Hải Dương.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Mai Ly - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Diệu Thúy - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại phòng xét xử dân sự. Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 20/2024/TLPT-DS ngày 29 tháng 5 năm 2023, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở pháp luật”. Do Bản án sơ thẩm số 14/2024/DS - ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 211/2024/QĐXXPT-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024. giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trương Trung T, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Vũ Xuân H, sinh năm 1972, địa chỉ: Số H T, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình và bà Phạm Thị Huyền T1, sinh năm 1994; địa chỉ: Số D P, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Bị đơn: Ông Hoàng Thanh L, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1953; địa chỉ: Tổ E, tổ dân phố I, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, ông L có mặt, bà T2 vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Hà Nhật L1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q; địa chỉ: Số A L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Đỗ Tiến Đ, sinh năm 1988; địa chỉ: Số G đường Đ, tổ dân phố A, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
  2. Bà Hoàng Thị H1, sinh năm: 1949; địa chỉ: thôn V, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
  3. UBND thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Ngọc Đ1 - Chủ tịch; địa chỉ: Đường P, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Tuấn L2 - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ, vắng mặt;

Do có kháng cáo của nguyên đơn anh Trương Trung T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo hồ sơ vụ án, lời khai, ý kiến của các đương sự và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn anh Trương Trung T và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày: Các thửa đất số 140, 142, tờ bản đồ số 02, diện tích 420m² gồm 260m² đất ở và 160m² mặt nước hoang (nay là thửa đất số 10, tờ bản đồ số 33); địa chỉ: phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình được UBND thị xã Đ (nay là thành phố Đ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) lần đầu, số phát hành B 984020, ngày 24/5/1993 mang tên bà Hoàng Thị H1. Đến ngày 19/6/2007, Phòng Tài Nguyên và Môi trường thành phố Đ chỉnh lý biến động, ghi nhận việc thu hồi một phần diện tích hai thửa đất do giải phóng đường H, theo đó diện tích đất ở còn lại là 230m² và diện tích mặt nước hoang là 106m². Đến năm 2019, bà Hoàng Thị H1 ký Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ phần diện tích đất cho anh Đỗ Tiến Đ. Ngày 30/9/2019, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ ghi nhận việc đăng ký biến động sang tên người sử dụng đất anh Đỗ Tiến Đ. Ngày 31/5/2021, anh Đỗ Tiến Đ và anh Trương Trung T tiến hành ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa đất số 140 và 142, tờ bản đồ số 02, tổng diện tích 336m²; địa chỉ: tại Phường Đ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành B984020, ngày 24/5/1993 mang tên bà Hoàng Thị H1, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ ghi nhận việc đăng ký biến động sang tên người sử dụng đất anh Đỗ Tiến Đ. Ngày 30/9/2021, tại Văn phòng C, hợp đồng được công chứng số 2946, quyển số 05/2021 TP/CC-SCC/HNGĐ. Giá chuyển nhượng 100.000.000 đồng. Hai bên tiến hành giao nhận tiền đầy đủ và anh Đỗ Tiến Đ đã bàn giao giấy CNQSDĐ cho anh Trương Trung T để tiến hành các thủ tục đăng ký thay đổi tên chủ sử dụng đất tại Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ. Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành thủ tục đăng ký đất đai tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì phát hiện trên phần diện tích đất mà anh T nhận chuyển nhượng từ anh Đ, vợ chồng ông L, bà T2 đã trồng cây, xây dựng hàng rào thép gai và sử dụng lấn chiếm khoảng 300m² đất. Phần cổng nhà và phần trước

hàng rào do ông L, bà T2 xây dựng đã lấn ra phần diện tích mà anh T nhận chuyển nhượng được đổ trụ bê tông, hàng rào dây thép gai (mắt cáo), giá trị khoảng 2.000.000 đồng. Các cây trồng trên đất gồm có 1 cây bàng và 1 cây phượng, chiều cao khoảng 3-4 mét, còn lại là cỏ dại và cây bụi giá trị ước tính khoảng 300.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị các công trình xây dựng và cây cối mà anh T yêu cầu Tòa án buộc ông L, bà T2 phải di dời ước tính là 2.300.000 đồng. Anh T đã làm đơn đề nghị hòa giải tranh chấp đất đai gửi tới UBND phường Đ để giải quyết tranh chấp giữa hai bên. UBND phường Đ đã tiến hành hòa giải nhưng các bên không tự thương lượng, thỏa thuận được với nhau để giải quyết tranh chấp.

Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 14; khoản 1 Điều 8; Điều 4 Bộ luật dân sự 2015; khoản 24 Điều 3 Luật đất đai. Anh T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới giải quyết: Buộc vợ chồng ông Hoàng Thanh L và bà Nguyễn Thị T2 chấm dứt các hành vi tranh chấp trái pháp luật, vì ông LT2 hoàn toàn không có quyền tranh chấp quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 140 và 142, tờ bản đồ số 02 (nay là thửa đất số 10, tờ bản đồ số 33), phường Đ mà anh T đã nhận chuyển nhượng một cách hợp pháp. Buộc vợ chồng ông Hoàng Thanh L và bà Nguyễn Thị T2 phải di dời toàn bộ cây trồng, vật nuôi và các công trình xây dựng trái phép trên các thửa đất số 140 và 142, thuộc tờ bản đồ số 02, diện tích 336 m² (gồm 230 m² đất ở và 106m² mặt nước hoang), ước tính giá trị công trình và cây cối là khoảng 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm ngàn đồng) để trả lại toàn bộ mặt bằng thửa đất mà anh T đã nhận chuyển nhượng của anh Đỗ Tiến Đ theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện: “Buộc vợ chồng ông Hoàng Thanh L và bà Nguyễn Thị T2 chấm dứt các hành vi tranh chấp trái pháp luật, vì ông LT2 hoàn toàn không có quyền tranh chấp quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 140 và 142, tờ bản đồ số 02, phường Đ mà anh T đã nhận chuyển nhượng của anh Đ một cách hợp pháp".

Bị đơn ông Hoàng Thanh L, bà Nguyễn Thị T2 trình bày: Từ những năm 1981 đến 1982 vợ chồng ông L lên khai hoang lập vườn và làm nhà ở đến hôm nay, hàng rào ông bà xây dựng từ năm 1990 cho đến nay, việc xây dựng để bảo vệ đất đai là hoàn toàn chính đáng. Ngày 24/5/1993, UBND thị xã Đ cấp giấy CNQSDĐ lần đầu, số phát hành B 984533, thửa đất số 141, tờ bản đồ số 02, diện tích 760m² (nay là thửa đất số 16, tờ bản đồ số 33); địa chỉ: phường Đ, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Bình mang tên Nguyễn Thị T2. Không hiểu sao đến năm 1995, bà Hoàng Thị H1 lại có sổ đỏ trên mảnh đất mà vợ chồng ông LT2 khai hoang đã hiến cho Nhà nước làm hành lang an toàn giao thông đường bộ theo Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành và hiện nay toàn bộ diện tích đất cấp cho bà H1 nằm trong mốc lộ giới an toàn giao thông đường H. Qua nhiều năm từ khi bà H1 có thẻ đỏ, vợ chồng ông LT2 đã khiếu nại nhiều lần, kể cả đến Tòa án thị xã Đ (nay là Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới). Năm 1996, có lần Ủy ban thị xã

Đ đã giải quyết và đã xác nhận diện tích đất trong giấy CNQSDĐ của bà H1 nằm trên hành lang đường H, nhưng không hiểu sao vẫn tồn tại. Đến năm 2019, bà H1 lại kiện lên Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, ông LT2 lại viết đơn trình bày sự việc như trên, là mảnh đất nằm trên cột mốc lộ giới đường H. Và cứ như vậy qua 3 lần hòa giải vẫn không thành vì có lý do như trên, nên ông LT2 đã trình lên UBND thành phố Đ, phiên tiếp dân UBND thành phố trả lời trong văn bản là tạm dừng giải quyết hồ sơ liên quan đến việc mua bán, chuyển nhượng các thửa đất số 141 và 142, tờ bản đồ số 02, phường Đ do đang tranh chấp trong phiên tiếp dân. Hiện nay, anh Trương Trung T yêu cầu vợ chồng ông L, bà T2 chấm dứt các tranh chấp quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 140 và 142, thuộc tờ bản đồ số 02, mà anh T nhận chuyển nhượng của anh Đỗ Tiến Đ và yêu cầu vợ chồng ông L, bà T2 di dời toàn bộ cây trồng, vật nuôi và các công trình xây dựng trái phép trên các thửa đất số 140 và 142, tờ bản đồ số 02, diện tích 336m² (gồm 230m² đất ở và 106m² mặt nước hoang) là không có cơ sở. Vì vậy, đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của ông T.

Ngày 17/10/2022, ông L và bà T2 có đơn yêu cầu phản tố và quá trình giải quyết vụ án ông L, bà T2 trình bày: Yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ số phát hành B984020, tại các thửa đất số 141 (diện tích đất ở 260m²) và thửa đất số 142 (diện tích đất mặt nước hoang 160m²), mang tên bà Hoàng Thị H1; địa chỉ: phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Hiện nay đã đăng ký biến động sang tên anh Đỗ Tiến Đ và buộc anh Trương Trung T phải trả lại mặt bằng hai thửa đất, có diện tích 336m² cho ông L, bà T2. Do việc UBND thị xã Đ (nay là thành phố Đ) cấp giấy CNQSDĐ cho bà H1 vào năm 1993 là không đúng. Bà H1 có hành vi tẩu tán tài sản. Vì vậy, ông L, bà T2 đề nghị Tòa nhân dân thành phố Đ chuyển hồ sơ tranh chấp dân sự lên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình để giải quyết theo thẩm quyền. Đến ngày 19/3/2024, bị đơn ông L, bà T2 có đơn xin rút toàn bộ nội dung yêu cầu phản tố.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:

Nguyên đơn anh T cho rằng anh Đ đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh theo đúng quy định của pháp luật, nên anh T đã xác lập quyền dân sự đối với thửa đất. Do đó, anh T có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông L, bà T2 phải trả lại mặt bằng thửa đất, đồng thời chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với thửa đất. Tuy nhiên, thửa đất đang xảy ra tranh chấp trước đây có nguồn gốc do gia đình ông L khai hoang, sử dụng ổn định lâu dài từ những năm 1981 cho đến nay. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất vào năm 1993 cho bà Hoàng Thị H1 là không đúng quy định của pháp luật, cấp chồng lên diện tích đất gia đình ông L, bà T2 khai hoang, đất nằm trong mốc giới hành lang an toàn giao thông đường bộ Đường H. Sau đó, bà H1 đã có hành vi tẩu tán tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang cho anh Đỗ Tiến Đ, sau đó anh Đ tiếp tục chuyển nhượng cho anh Trương Trung T. Do đó, việc các cơ

quan chức năng cấp giấy CNQSDĐ mang tên bà H1 là chưa đúng đối tượng, cấp chồng lấn lên đất đai và tài sản gắn liền với đất của ông L, bà T2.

Tại phiên tòa phía nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu “chấm dứt hành vi tranh chấp trái pháp luật” chỉ giữ lại yêu cầu khởi kiện “yêu cầu di dời cây cối, vật nuôi và các công trình trái phép trên đất để trả lại mặt bằng đất cho anh T”. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật đất đai quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”. Trong trường hợp trên, mặc dù anh Trương Trung T và anh Đỗ Tiến Đ đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng chưa thực hiện thủ tục hành chính đăng ký vào sổ địa chính biến động sang tên quyền sử dụng đất. Do đó, chưa phát sinh hiệu lực pháp lý của hợp đồng theo quy định. Mặt khác Công văn số 89/TANDTC-DC ngày 30/6/2020 của TAND Tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử, tại M, Phần IV giải thích: “Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào số địa chính”. Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh T và anh Đ chưa phát sinh hiệu lực pháp lý. Do đó, anh Trương Trung T không có tư cách chủ thể để thực hiện quyền khởi kiện theo quy định. Chỉ có anh Đỗ Tiến Đ mới có tư cách chủ thể để thực hiện các quyền của người sử dụng đất. Do đó, việc anh T khởi kiện trong vụ án là không có căn cứ, anh T chỉ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Tại công văn phúc đáp số 4318/TAND - DS ngày 13/10/2023 của TAND tỉnh Quảng Bình gửi TAND thành phố Đồng Hới đã nêu rất rõ nội dung: Về quan hệ pháp luật và yêu cầu khởi kiện, anh Trương Trung T khởi kiện buộc bị đơn ông L, bà T2 “di dời tài sản gắn liền với đất và buộc chấm dứt hành vi tranh chấp trái pháp luật”, có liên quan đến các thửa đất số 140 và 142, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: phường Đ, mang tên bà Hoàng Thị H1 đã đăng ký biến động sang tên cho anh Đỗ Tiến Đ ngày 30/10/2019. Ngày 31/5/2021, giữa anh Đỗ Tiến Đ và anh Trương Trung T mới chỉ có thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ thửa đất nói trên cho anh Trương Trung T, mà chưa tiến hành các thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật, Đồng thời các công văn của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố Đ đều trả lời các thửa đất trên đang thuộc sở hữu của anh Đỗ Tiến Đ. Như vậy, tính đến thời điểm khởi kiện thì các thửa đất số 140, 142 đang thuộc sở hữu của anh Đ, cho nên anh T không có quyền khởi kiện vụ án theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ những phân tích trên, anh T không phải là chủ sử dụng đất đối với các thửa đất số 140 và 142, tờ bản đồ số 02; địa chỉ: phường Đ, thành phố Đ theo quy định của pháp luật để khởi kiện. Do đó, yêu cầu của anh T không có căn cứ. Kính đề nghị HĐXX xem xét áp dụng các quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật đất đai; Công văn số 89/TANDTC - DC ngày 30/6/2020 của TAND Tối cao; điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự để bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trương Trung T.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị H1 trình bày: Bà đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới. Về nguồn gốc các thửa đất số 140 và 142, tờ bản đồ số 02, diện tích 420m²; địa chỉ: phường Đ, thành phố Đ, thuộc quyền sử dụng đất của bà. Ngày 24/5/1993, Ủy ban nhân dân thị xã Đ (nay là thành phố Đ) cấp giấy CNQSDĐ số phát hành B984020, tại các thửa đất số 141 (diện tích đất ở 260m²) và thửa đất số 142 (diện tích đất mặt nước hoang 160m²), mang tên bà Hoàng Thị H1. Sau đó, bà ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho cháu của bà là anh Đỗ Tiến Đ cách đây vài ba năm bà không nhớ cụ thể. Bà không biết gì về việc ông L, bà T2 có đơn đề nghị hủy giấy CNQSDĐ mang tên bà. Bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật và xin xét xử vắng mặt.

Tại Công văn số 880/UBND-TBNT ngày 17/4/2023, UBND thành phố Đ có ý kiến: Hồ sơ cấp giấy CNQSDĐ của bà Hoàng Thị H1 đối với các thửa đất số 140 và 142, tờ bản đồ số 02, phường Đ, thành phố Đ được lập đại trà (bà H1 kê khai đồng loạt cùng với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại phường Đ). Trên cơ sở đề nghị của Hội đồng xét cấp giấy CNQSDĐ phường Đ. Tờ trình của cơ quan quản lý đất đai thị xã Đ. Ngày 24/5/1993, Ủy ban nhân dân thị xã Đ ban hành Quyết định số 77/QĐ-UB về việc cấp giấy CNQSDĐ cho 02 tổ chức và 2.184 cá nhân tại phường Đ, trong đó có bà Hoàng Thị H1 và bà Nguyễn Thị T2. Bà H1 được cấp giấy CNQSDĐ số vào số 05308/QSDĐ/77/QĐ-UB đối với thửa đất số 140, tờ bản đồ số 06, diện tích 260m² đất ở và thửa đất số 142, tờ bản đồ số 06, diện tích 160,0m² đất mặt nước hoang. Việc UBND thị xã Đ cấp giấy CNQSDĐ cho bà H1 đối với các thửa đất số 140 và 142 là phù hợp quy định tại Điều 13 Nghị định số 30-HĐBT ngày 23/3/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về thi hành Luật đất đai và đúng thẩm quyền theo quy định tại Mục IV quy định về việc cấp giấy CNQSDĐ ban hành kèm theo Quyết định số 201-QĐ/ĐKTK ngày 14/7/2989 của T3 và ban hành quy định cấp giấy CNQSDĐ. Từ khi cấp giấy CNQSDĐ cho đến nay. Ủy ban nhân dân thành phố không nhận được việc khiếu nại liên quan đến việc cấp giấy CNQSDĐ mang tên bà Hoàng Thị H1.

Quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Đỗ Tiến Đ, nhưng anh Đ không đến Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Toà án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Đ theo quy định của pháp luật, theo địa chỉ do nguyên đơn cung cấp và đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho anh Đ, nhưng anh Đ đều vắng mặt không có lý do.

Quá trình giải quyết vụ án. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản. Ngày 16/6/2023, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chổ, kết quả: Hiện trạng các thửa đất số 140 và 142, tờ bản đồ số 02, mang tên ông Đỗ Tiến Đ, có ranh giới như sau: Phía Đông Bắc giáp đường H, ranh giới được xác định theo dấu S và cọc gỗ tại thực địa; phía Đông Nam giáp đường V, ranh giới được xác định theo dấu S và một phần mép ngoài cộc Bê tông của ông L; phía Tây Nam giáp đất ông L, ranh giới được xác

định từ cọc gỗ đến dấu S trên mép ngoài hàng rào xây của ông L; phía T giáp hành lang đường mòn Hồ Chí Minh.

Thửa đất số 141, tờ bản đồ số 02, mang tên bà Nguyễn Thị T2, theo ông L chỉ đạc ranh giới như sau: Phía Đông Bắc giáp đường H, ranh giới xác định theo dấu S và cọc gỗ; phía Đông Nam giáp đường V, ranh giới xác định từ dấu S đế mép ngoài hàng rào xây của nhà bà H2; phía T giáp hành lang đường mòn H4, ranh giới xác định từ cọc gỗ đến mép ngoài hàng rào xây của nhà bà H2; phía Tây Nam giáp đất nhà bà H2, ranh giới xác định theo mép ngoài hàng rào xây của nhà bà H2 (Kích thước cụ thể có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Về tài sản trên đất: Tường rào B40, cọc bê tông cốt thép cao hơn 1,4m, dài 43,2m; cửa cổng, cổng sắt hộp, cổng lưới B40, kích thước 3,6m x 1,5m; trụ cổng xây gạch Blook, không tô trát, kích thước (4,5m x 4,5m x 1,5m x 02 trụ). Toàn bộ phần tài nằm trên phần diện tích đất tranh chấp.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của TAND thành phố Đồng Hới đã quyết định: Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 40, Điều 91, điểm a khoản 2 Điều 217; Điều 147, Điều 227, 228, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 269 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn anh Trương Trung T và bị đơn ông Hoàng Thanh L, bà Nguyễn Thị T2.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trương Trung T về “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật” giữa nguyên đơn anh Trương Trung T và bị đơn ông Hoàng Thành L3, bà Nguyễn Thị T2.
  3. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hoàng Thanh L, bà Nguyễn Thị T2.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm. Ngày 25/4/2024, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện và toàn bộ nội dung kháng cáo của nguyên đơn. Buộc bị đơn vợ chồng ông L, bà T2 phải di dời toàn bộ cây trồng, vật nuôi và các công trình xây dựng trái phép trên các thửa đất số 140 và 142, tờ bản đồi số 02, phường Đ, thành phố Đ để trả lại mặt bằng diện tích đất cho nguyên đơn để nguyên đơn thực hiện quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo. Đề nghị HĐXX phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của nguyên đơn. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng. Nguyên đơn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của anh Đỗ

Tiến Đ. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và anh Đ đã được công chứng theo đúng quy định của pháp luật. Dó đó, nguyên đơn là người sử dụng đất hợp pháp theo quy định của pháp luật về đất đai. Vì vậy, nguyên đơn có quyền khởi kiện yêu cầu ông L, bà T2. Yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông L và bà T2 phải di dời toàn bộ cây trồng, vật nuôi và các công trình xây dựng trái phép trên các thửa đất số 140 và 142, thuộc tờ bản đồ số 02, diện tích 336 m² (gồm 230 m² đất ở và 106m² mặt nước hoang), ước tính giá trị công trình và cây cối là khoảng 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm ngàn đồng) để trả lại toàn bộ mặt bằng thửa đất cho nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông L và bà T2 và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng: các thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc do gia đình ông L khai hoang, sử dụng ổn định lâu dài từ những năm 1981 cho đến nay. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất vào năm 1993 cho bà Hoàng Thị H1 là không đúng quy định của pháp luật, cấp chồng lên diện tích đất gia đình ông L, bà T2 khai hoang, đất nằm trong mốc lộ giới hành lang an toàn giao thông đường bộ Đường H, nhưng bà H1 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang cho anh Đỗ Tiến Đ và anh Đ tiếp tục chuyển nhượng cho anh Trương Trung T là không đúng quy định của pháp luật. Do đó, anh T chưa phải là người được quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Vì vậy, anh T khởi kiện yêu cầu vợ chồng bị đơn phải di dời toàn bộ cây trồng, vật nuôi và tài sản trên các thửa đất số 140 và 142 mà bị đơn đã làm là không có căn cứ, nên đề nghị HĐXX bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của nguyên đơn anh T.

Nguyên đơn giữ nguyên kháng cáo, bị đơn có mặt tại phiên tòa. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung: Qua xem xét đánh giá các tài liệu, chứng cứ có tài hồ sơ vụ án, ý kiến yêu cầu của nguyên đơn. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DSST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật”. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Nguyên đơn ông T không phải chịu án phí phúc thẩm. Các đương sự chưa phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 19/4/2024 Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử vụ án. Ngày 25/4/2024, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Trương Trung T làm đơn kháng cáo, đơn kháng cáo làm trong hạn luật định, nội dung, hình thức đúng quy định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Căn cứ các Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án được thụ lý xét xử theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

Ngày 31/7/2024, Tòa án mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, nhưng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị hoãn phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố Đ có dơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông L, bà T2 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, nên phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Về xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn vợ chồng ông Hoàng Thanh L, bà Nguyễn Thị T2 chấm dứt các hành vi tranh chấp trái pháp luật và phải di dời toàn bộ cây trồng, vật nuôi và các công trình xây dựng trái phép trên các thửa đất số 140 và 142, thuộc tờ bản đồ số 02, diện tích 336 m² để trả lại toàn bộ mặt bằng thửa đất mà nguyên đơn đã nhận chuyển nhượng của anh Đỗ Tiến Đ theo quy định của pháp luật. Thực chất đây chỉ là quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở pháp luật” là chưa chính xác, nhưng phù hợp với quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự để xem xét giải quyết là có căn cứ.

[2] Xét kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Trương Trung T, Hội đồng xét xử, nhận thấy:

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, về việc “Buộc vợ chồng bị đơn ông Hoàng Thanh L, bà Nguyễn Thị T2 chấm dứt các hành vi tranh chấp đất đai trái pháp luật” và giữ nguyên một phần yêu cầu khởi kiện “Buộc bị đơn vợ chồng ông Hoàng Thanh L, bà Nguyễn Thị T2 phải di dời toàn bộ cây trồng, vật nuôi và các công trình xây dựng trái phép trên các thửa đất số 140 và 142, thuộc tờ bản đồ số 02, diện tích 336m² để trả lại toàn bộ mặt bằng thửa đất mà nguyên đơn ông T đã nhận chuyển nhượng của ông Đỗ Tiến Đ theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, tại phần nhận định, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã nhận định trái ngược với nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử sơ thẩm cho rằng, nguyên đơn rút yêu cầu buộc bị đơn phải di dời toàn bộ cây trồng,

vật nuôi và các công trình xây dựng trái phép trên các thửa đất số 140 và 142, thuộc tờ bản đồ số 02, diện tích 336m² để trả lại toàn bộ mặt bằng thửa đất và giữ nguyên yêu cầu buộc chấm dứt các hành vi tranh chấp đất đai trái pháp luật. Từ đó, ra Quyết định đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc di dời toàn bộ cây trồng, vật nuôi và các công trình xây dựng trái phép trên các thửa đất số 140 và 142, thuộc tờ bản đồ số 02, diện tích 336m² để trả lại toàn bộ mặt bằng thửa đất cho nguyên đơn “Tranh chấp quyền sử dụng đất” và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về “Yêu cầu chấm dứt hành vi tranh chấp đất đai trái pháp luật” là không phù hợp với ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn, cụ thể phần nguyên đơn rút yêu cầu thì giải quyết, còn phần nguyên đơn yêu cầu giải quyết thì đình chỉ là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, chưa giải quyết yêu cầu của nguyên đơn tại cấp sơ thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Căn cứ khoản 3 Điều 308 và khoản 2 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DSST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật”. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bản án dân sự sơ thẩm bị hủy để xét xử lại, nên nguyên đơn anh Trương Trung T không phải chịu án phí phúc thẩm.

[4] Về án phí sơ thẩm: Bản án sơ thẩm bị hủy để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Vì vậy, nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Các đương sự chưa phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 308 và khoản 2 Điều 310 và khoản 3 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử.

  1. Hủy Bản án sơ thẩm số 14/2024/DSST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật”. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn ông Trương Trung T không phải chịu. Trả lại cho ông Trương Trung T số tiền 300.000 đồng, ông Vũ Xuân H, bà Phạm Thị Huyền T1 đã nộp tại biên lai tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 000121 ngày 06/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới.
  1. Về án phí sơ thẩm: Nghĩa vụ chịu án phí được xác định khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Các đương sự chưa phải chịu án phí sơ thẩm.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân:

  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND CC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh QB (P9);
  • - TAND Thành phố Đồng Hới;
  • - Chi cục THADS thành phố Đ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Dương Viết Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/DS-PT ngày 07/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 45/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy Bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án giải quyết theo thủ tục sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger