|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 45/2024/HSST Ngày: 06-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Quốc Thái Bình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Xuân Quan
2. Bà Đinh Thị Mỹ Hằng
Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Mỹ Nga - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
LÊ THIỆN THUẤN; Sinh năm: 1992, tại: Thanh Hoá; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Chổ ở hiện nay: Thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền sự - Tiền án: Không; Con ông: Lê Thiện T (đã chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1972; Vợ: Văn Hữu Thị Ánh N, sinh năm: 1993; Có 01 con sinh năm 2016; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/01/2024; Bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 15/01/2024; Hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 15/2024/HSST-LCCT ngày 02/4/2024 của Toà án nhân dân thị xã La Gi (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 10 phút ngày 12/01/2024, tại đường L, thuộc thôn T, xã T, thị xã L, bị cáo Lê Thiện T1 có hành vi tàng trữ hàng cấm là pháo nổ thì bị tổ công tác thuộc đội cảnh sát kinh tế ma tuý Công an thị xã L phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ gồm:
- - 02 khối hình hộp vuông, kích thước khoảng (17,5 x 17,5 x 10)cm, trên bề mặt có in hình pháo hoa nhiều màu sắc và ghi chữ NAGA 49, MADE IN CHINA;
- 01 khối hình hộp vuông, kích thước khoảng (24x24x10)cm, bề mặt có in hình pháo hoa nhiều màu sắc và ghi chữ KS4-10011, BILLION TIME, MADE IN CHINA.
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen, biển số 86B7 - 425.83.
- - 01 túi nylon có hai quai xách màu trắng đỏ bên trên có ghi chữ nước ngoài;
- - 01 bịch nylon màu đen.
Tại Bản kết luận giám định số: 87/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- - 100 ống giấy hình trụ tròn (mỗi ống có chiều dài 10cm, đường kính 02cm) được chứa trong một khối hình hộp chữ nhật có ký hiệu KS4-10011, BILLION TIME, MADE IN CHINA, khối hình hộp có kích thước (24 x 24 x 10)cm, bao bì nhiều màu sắc gửi giám định: là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ; bên trong có chứa thành phần thuốc pháo; khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu; tổng khối lượng là 3,3kg.
- - 98 ống giấy hình trụ tròn (mỗi ống có chiều dài 10cm, đường kính 02cm) được chứa trong hai khối hình hộp chữ nhật có ký hiệu NAGA 49, MADE IN CHINA, mỗi khối hình hộp có kích thước (17,5 x 17,5 x 10)cm, bao bì có nhiều màu sắc gửi giám định: là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ; bên trong có chứa thành phần thuốc pháo; khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu; tổng khối lượng là 3,75kg.
Tổng khối lượng pháo bên trong thùng giấy được niêm phong là 7,05 kg.
Quá trình điều tra thể hiện: Vào ngày 08/01/2024, bị cáo Lê Thiện T1 đặt mua trên mạng intrenet 01 giàn pháo hoa 100 viên, với giá 1.100.000 đồng và 02 giàn pháo hoa 49 viên, với giá 600.000 đồng/01 hộp. Sau khi mua được pháo hoa, T1 đem về nhà ở thôn H, xã T, thị xã L cất giấu. Đến khoảng 17 giờ ngày 12/01/2024, T1 lấy hết số pháo hoa bỏ vào trong túi nylon màu đen rồi để vào túi nylon có quai xách màu trắng đỏ; Thuấn đặt túi nylon có chứa pháo hoa lên baga phía trước của xe môtô biển số 86B7 - 425.83 rồi điều khiển đến nhà mẹ vợ ở xã T, thị xã L để tổ chức sinh nhật cho con. Khoảng 17 giờ 10 phút cùng ngày, T1 điều khiển xe môtô lưu thông trên đường L, khi đến trước quán H, thuộc thôn T, xã T, thị xã L, thì dừng lại để nghe điện thoại. Lúc này, lực lượng Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đi đến kiểm tra, phát hiện thấy T1 tàng trữ pháo hoa nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ gồm: Số tang vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 thùng giấy màu vàng xanh, kích thước (37 x 25 x 22)cm; 01 túi nylon có quai xách màu trắng đỏ và 01 bịch nylon màu đen, hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi quản lý.
Tại bản cáo trạng số: 44/CT-VKSLG-HS ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Lê Thiện T1, về tội: “Tàng trữ hàng cấm" theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Thiện T1 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thiện T1, phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm".
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Phạt bị cáo Lê Thiện T1, mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
* Về biện pháp tư pháp:
Áp dụng: Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên: Tịch thu tiêu hủy số tang vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 thùng giấy màu vàng xanh, kích thước (37 x 25 x 22)cm; 01 túi nylon có quai xách màu trắng đỏ và 01 bịch nylon màu đen.
- Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thiện T1 khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
- Bị cáo Lê Thiện T1 không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.
- Lời nói sau cùng của bị cáo Lê Thiện T1: Bị cáo thấy được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:
Tại tòa, bị cáo Lê Thiện T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung cáo trạng và diễn biến tại phiên toà, có đủ căn cứ để kết luận: Do có nhu cầu mua pháo hoa về để sử dụng trong dịp sinh nhật con, nên vào ngày 08/01/2024, bị cáo Lê Thiện T1 đặt mua trên mạng intrenet 01 giàn pháo hoa 100 viên, với giá 1.100.000 đồng và 02 giàn pháo hoa 49 viên, với giá 600.000 đồng/01 hộp, sau đó bị cáo đem về nhà ở thôn H, xã T, thị xã L cất giấu. Đến khoảng 17 giờ ngày 12/01/2024, bị cáo lấy hết số pháo hoa bỏ vào túi nylon màu đen, rồi để vào túi nylon có quai xách màu trắng đỏ, dùng xe máy chở đến nhà mẹ vợ ở xã T, thị xã L để tổ chức sinh nhật cho con. Khi bị cáo điều khiển xe lưu thông trên đường L, đến trước quán H, thuộc thôn T, xã T, thị xã L, thì
dừng lại để nghe điện thoại. Lúc này, lực lượng Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đi đến kiểm tra, phát hiện thấy bị cáo tàng trữ pháo hoa nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ cùng tang vật.
Tại Bản kết luận giám định số: 87/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- - 100 ống giấy hình trụ tròn (mỗi ống có chiều dài 10cm, đường kính 02cm) được chứa trong một khối hình hộp chữ nhật có ký hiệu KS4-10011, BILLION TIME, MADE IN CHINA, khối hình hộp có kích thước (24 x 24 x 10)cm, bao bì nhiều màu sắc gửi giám định: là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ; bên trong có chứa thành phần thuốc pháo; khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu; tổng khối lượng là 3,3kg.
- - 98 ống giấy hình trụ tròn (mỗi ống có chiều dài 10cm, đường kính 02cm) được chứa trong hai khối hình hộp chữ nhật có ký hiệu NAGA 49, MADE IN CHINA, mỗi khối hình hộp có kích thước (17,5 x 17,5 x 10)cm, bao bì có nhiều màu sắc gửi giám định: là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ; bên trong có chứa thành phần thuốc pháo; khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu; tổng khối lượng là 3,75kg.
Tổng khối lượng pháo bên trong thùng giấy được niêm phong là 7,05 kg.
Với hành vi tàng trữ 7,05 kg pháo nổ nêu trên của bị cáo Lê Thiện T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ hàng cấm", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng số: 44/CT-VKSLG-HS ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Lê Thiện T1 về tội danh, điều luật áp dụng nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thiện T1,
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, để nhận thức được việc tàng trữ 7,05kg pháo nổ là trái phép, pháp luật nghiêm cấm. Mặc dù bị cáo nhận thức rõ vấn đề này nhưng để thoả mãn sở thích, nhu cầu cá nhân, bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi tàng trữ pháo nổ như đã nêu trên. Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thiện T1 là cố ý, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, để đảm bảo yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương, cũng như lập lại trật tự công cộng, cần phải xử lý đối với bị cáo. Bản án xử bị cáo phải đảm bảo được tính răn đe, giáo dục cao, để không những cải tạo, giáo dục chính bị cáo, mà còn để làm gương cho những người khác.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về việc làm sai trái của bản thân; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Nhân thân tốt, chưa có tiền án - tiền sự; Hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính (có xác nhận của chính quyền địa phương). Đây là các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, cũng như khối lượng pháo nổ mà bị cáo tàng trữ, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần khoan hồng về phần hình phạt đối với bị cáo, áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục, để bị cáo có điều kiện vừa cải tạo, vừa lao động ổn định cuộc sống, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo mang tính bộc phát, nhất thời, chỉ để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của bản thân, không có mục đích mua bán kiếm lời, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tang vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 thùng giấy màu vàng xanh, kích thước (37 x 25 x 22)cm; 01 túi nylon có quai xách màu trắng đỏ và 01 bịch nylon màu đen. Xét, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; vật không có giá trị, cần tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về nguồn gốc số pháo nổ:
Bị cáo Lê Thiện T1 khai nhận vào ngày 08/01/2024, bị cáo đặt mua trên mạng intrenet 01 giàn pháo hoa 100 viên, với giá 1.100.000 đồng và 02 giàn pháo hoa 49 viên, với giá 600.000 đồng/01 hộp. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này, nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Lê Thiện T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- - Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Lê Thiện T1, phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.
[2] Xử phạt:
Bị cáo Lê Thiện T1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, được tính từ ngày Toà tuyên án sơ thẩm (ngày 06/5/2024).
Giao bị cáo Lê Thiện T1 cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo (bị cáo Lê Thiện T1) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo (bị cáo Lê Thiện T1) cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo (bị cáo Lê Thiện T1) phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[3] Về xử lý vật chứng:
Tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 thùng giấy màu vàng xanh được niêm phong, kích thước (37 x 25 x 22)cm; 01 túi nylon có hai quai xách màu trắng đỏ và 01 bịch nylon màu đen. Các vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã L, có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/4/2024, giữa Cơ quan CSĐT công an thị xã L và Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi.
[4] Về án phí:
Bị cáo Lê Thiện T1 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Lê Thiện T1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.
(Đã giải thích chế định án treo đối với bị cáo Lê Thiện T1)
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Từ Quốc Thái Bình |
Bản án số 45/2024/HSST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ hàng cấm
- Số bản án: 45/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyễn thiện T phạp tội tàng trữ hàng cấm
