Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06-8-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Phước

Ông Nguyễn Quốc Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Ngọc Hân là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc – Kiểm Sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 369/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Diệu H, sinh năm 1997. (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp V, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Lý Hoàng Đ, sinh năm 1988. (Có mặt)

Địa chỉ: Số D, đường T, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 5 năm 2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Đ chung sống với nhau và đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố S theo Giấy chứng nhận kết hôn số 94/2017, đăng ký ngày 07/9/2017. Ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2019, do điều kiện kinh tế nên bà H đi nước ngoài làm việc cho đến nay. Trong thời gian từ năm 2019 đến năm 2023, do dịch bệnh Covid nên bà về Việt Nam thăm gia đình được 02 lần, trong thời gian này, giữa vợ chồng ông bà đã bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn. Bà H nhiều lần bỏ qua và hàn gắn tình cảm nhưng ông Đ vẫn không thay đổi. Đến đầu năm 2024, khi bà H về Việt Nam thăm con và ở lại nhà của ông Đ thì giữa hai người xảy ra mâu thuẫn, không thể hàn gắn được. Nay bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Bà H và ông Đ có 01 người con chung tên tên Lý Thanh P, giới tính nam, sinh ngày 09/4/2018. Hiện cháu P đang sống cùng ông Đ tại số D, đường T, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu giao con chung tên Lý Thanh P cho ông Đ nuôi dưỡng, cho đến khi đủ 18 tuổi, bà H không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn ông Lý Hoàng Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Đăng nhất với lời trình bày của bà H về thời gian chung sống, đăng ký kết hôn. Theo ông Đ, sau khi kết hôn vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì bà H đi nước ngoài làm việc. Đến năm 2020 bà H có về thăm ông Đ và con được nữa tháng thì đi tiếp. Sau đó, do dịch bệnh Covid nên bà H không về nữa. Trong thời gian này, tình cảm vợ chồng ông bà vẫn bình thường, vẫn liên lạc với nhau. Đến năm 2023 bà H mới về Việt Nam, khi này do vợ chồng ông bà xảy ra cự cải nên bà H về mà không thông báo cho ông Đ và con biết, cũng như không đến thăm ông Đ và con. Đến tháng 4/2024, khi bà H về Việt Nam thăm con và ở lại nhà của ông Đ thì giữa hai người xảy ra cự cải. Sau đó, bà H bỏ về nhà mẹ ruột sống và nộp đơn xin ly hôn với ông chứ vợ chồng không có bất kỳ mâu thuẫn gì. Từ khi bà H nộp đơn xin ly hôn cho đến nay, ông Đ không liên lạc được, cũng như không thể gặp bà H để vợ chồng trao đổi, hàn gắn. Do ông Đ còn tình cảm với bà H nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H.

Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Lý Thanh P, nam, sinh ngày 09/4/2018. Từ khi bà H đi nước ngoài làm việc, cháu P do ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, cháu được chăm sóc tốt và cho đi học đầy đủ. Ông Đ không đồng ý ly hôn, trường hợp Toà án giải quyết cho ly hôn thì ông Đ yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lý Thanh P, cho đến khi đủ 18 tuổi. Theo ông Đ, trong năm đầu bà H đi nước ngoài, bà có gửi tiền về phụ ông nuôi con nhưng từ năm 2020 cho đến nay, bà H không có đóng góp gì để phụ ông Đ nuôi cháu P. Hiện nay, ông Đ đang làm bên Viễn thông, thu nhập mỗi tháng ổn định từ 9.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, nên ông đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu bà H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Đ trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68; 70; 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về quan hệ hôn nhân cho ly hôn giữa bà H và ông Đ. Về con chung, giao con chung tên Lý Thanh P, nam, sinh ngày 09/4/2018 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông Đ không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H, ông Đ trình bày không có, không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1]. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Lý Hoàng Đ, cư trú tại thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Về nội dung vụ án:

[2]. Xét yêu cầu ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà H và ông Đ chung sống với nhau và đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố S theo Giấy chứng nhận kết hôn số 94/2017, đăng ký ngày 07/9/2017. Tại thời điểm kết hôn, bà H và ông Đ đủ điều kiện kết hôn và thực hiện việc đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên quan hệ hôn nhân giữa ông, bà được pháp luật công nhận.

Sau khi kết hôn, bà H và ông Đ có thời gian chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Bà H cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng trong quan điểm sống và do điều kiện công việc, ông bà phải sống xa nhau nên thường xuyên xảy ra tranh cải, mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn. Ông Đ cho rằng giữa vợ chồng ông bà không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ tranh cải những chuyện nhỏ trong cuộc sống. Mặc dù ông bà sống xa nhau, nhưng vẫn gọi điện, trao đổi với nhau nên ông Đ không đồng ý ly hôn. Tòa án đã ra thông báo về phiên hòa giải cho vợ chồng trở về đoàn tụ 02 (hai) lần nhưng bà H vẫn cương quyết ly hôn, không đồng ý trở về đoàn tụ.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Hội đồng xét xử xét thấy, theo quy định trên thì bà H và ông Đ đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, bà H yêu cầu ly hôn với ông Đ là có căn cứ, được chấp nhận.

[3]. Về con chung: Bà H trình bày, ông bà có 01 con chung tên Lý Thanh P, giới tính nam, sinh ngày 09/4/2018. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu giao cháu P cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi đủ 18 tuổi. Ông Đ đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng cháu P cho đến khi đủ 18 tuổi. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; ...”. Hội đồng xét xử xét thấy, việc thỏa thuận người trực tiếp nuôi con của ông, bà là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận này của ông bà, giao con chung tên Lý Thanh P cho ông Lý Hoàng Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.

Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi” và khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Do đó, bà Nguyễn Thị Diệu H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử xét thấy, tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Theo quy định này thì bà H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, ông Đ cho rằng, ông có việc làm và thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu bà H phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Diệu H và ông Lý Hoàng Đ trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[6]. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Diệu H và ông Lý Hoàng Đ trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[7]. Như đã phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8]. Về án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Đ1 a Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Diệu H.

- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Diệu H và ông Lý Hoàng Đăng

- Về nuôi con chung: Công nhận sự thỏa thuận giữa bà Nguyễn Thị Diệu H và ông Lý Hoàng Đ, giao con chung tên Lý Thanh P, nam, sinh ngày 09/4/2018 cho ông Lý Hoàng Đ trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

Bà Nguyễn Thị Diệu H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không bị ai cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: bà Nguyễn Thị Diệu H không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Diệu H và ông Lý Hoàng Đ trình bày không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn: Bà Nguyễn Thị Diệu H phải chịu án phí sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001772, ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Bà Nguyễn Thị Diệu H đã nộp xong án phí sơ thẩm.

3. Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND TP Sóc Trăng;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng;
  • - UBND Phường 5, TPST;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger