Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VẠN NINH

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 06 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Tám
  2. Ông Đỗ Ngọc Quý

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Anh Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: VÕ THỊ MỸ T1, sinh ngày 18/11/1986; giới tính: Nữ; sinh tại huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Nơi cư trú: thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Học vấn: Không biết chữ. Nghề nghiệp: Không. Cha: Không xác định. Mẹ: Võ Thị H, sinh năm: 1960. Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2020. Hiện đang sống chung như vợ chồng với ông Trần Ngọc C, sinh năm 1981, tại thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt truy nã ngày 14 tháng 5 năm 2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Nguyễn Thị Xuân H1, sinh năm 1993; trú tại: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  2. Nguyễn Thị T, sinh năm 1975; trú tại: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Ngọc C, sinh năm 1981; trú tại: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Quang T1, sinh năm 1972; trú tại: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 2002; trú tại: Thôn X, xã X, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Võ Thị Mỹ T3 là người chưa có tiền án, tiền sự nhưng do không có tiền tiêu sài nên trong các ngày 27/02/2023 và 15/3/2023 T3 đã hai lần trộm cắp tài sản của người khác, cụ thể như sau:

Vào khoảng 09h00' ngày 27/02/2023, Võ Thị M Thiếu điều khiển xe mô tô biển số 79S1-4301 đi đến thôn H, xã V, huyện V thì thấy ở trên đường bê tông trước nhà ông Nguyễn Đ có dựng 01 xe mô tô biển số 79V1-197.49 của bà Nguyễn Thị T không có người trông coi, trên xe có gắn chìa khóa xe nên T3 nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô này. Thiếu điều khiển xe mô tô 79S1-4301 đến dựng gần sát xe mô tô 79V1-197.49, sau đó T3 lên xe mô tô 79V1-197.49 mở khóa nổ máy điều khiển xe chạy đi, bỏ lại xe mô tô 79S1-4301. Sau đó hành vi trộm cắp của T3 bị phát hiện, T3 khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 334/KL-TCKH.TTHS ngày 05/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS FI, số khung: RLCS1FC40EY023516, số máy: 1FC4023513, màu sơn: đỏ đen, biển số: 79V1-197.49 trị giá 7.572.000 đồng (bảy triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn đồng).

Tiếp đến vào khoảng 12h50' ngày 15/3/2023, Võ Thị M Thiếu điều khiển xe mô tô biển số: 79V1-197.49 đến Công viên thuộc Tổ dân phố số A, thị trấn V, huyện V, T3 để xe mô tô 79V1-197.49 tại Công viên rồi đi bộ đến đối diện cửa hàng X thuộc Tổ dân phố số A, thị trấn V, huyện V thì thấy xe mô tô HONDA VISION, màu sơn: đỏ nâu, biển số: 79V1-386.86 của bà Nguyễn Thị Xuân H1 dựng trên lề đường không có người trông coi nên Thiếu lén lút trộm cắp xe mô tô 79V1-386.86. Khi T3 dắt xe đi được khoảng 04m thì bị bà H1 và người dân phát hiện bắt giữ và trình báo cho Cơ quan Công an. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 294/KL-TCKH.TTHS ngày 27/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại VISION, số khung: 5810GY53901, số máy: JF66E047197, màu sơn: đỏ nâu, biển số: 79V1-386.86 trị giá 16.500.000 đồng (mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô biển số: 79V1-197.49. Đã trả lại cho chủ sở hữu bà Nguyễn Thị T; 01 xe mô tô biển số: 79V1-386.86. Đã trả lại cho chủ sở hữu bà Nguyễn Thị Xuân H1; 01 xe mô tô biển số: 79S1-4301. Xe mô tô này là của ông Trần Ngọc C, ngày 27/02/2023 T3 dùng xe này làm phương tiện để trộm cắp tài sản, ông C không biết việc này nên không có cơ sở thu giữ, đã trả lại cho ông Trần Ngọc C.

Về dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị Xuân H1; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc C, ông Nguyễn Quang T1 đã nhận lại tài sản đầy đủ và không còn yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số: 07/CT-VKSVN ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Võ Thị Mỹ T3 về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Võ Thị Mỹ T3 với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Đã trả lại cho các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và họ cũng không có yêu cầu gì nên không xét; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[I] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[II] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại bà Nguyễn Thị Xuân H1, bà Nguyễn Thị T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc C, ông Nguyễn Quang T1; người làm chứng anh Nguyễn Văn T2 đều vắng mặt, tuy nhiên trong hồ sơ các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ai có yêu cầu gì về phần bồi thường thiệt hại, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Để xác định nhân thân của bị cáo Võ Thị Mỹ T3, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết và dựa trên Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 4491/KLGDĐT-C09B ngày 14/7/2023 của Phân viện Khoa học Hình sự Bộ C1 tại TP . (C) kết luận: Quá trình khám giám định, kết quả cận lâm sàng, xác định tại thời điểm giám định (tháng 7 năm 2023) Phan Thị Mỹ T4 có thể chất đã phát triển hoàn thiện, các đầu xương tay, chân và xương chậu đã hoá cốt hoàn toàn, không đủ cơ sở để kết luận chính xác độ tuổi của Phan Thị Mỹ T4 và Kết luận giám định số: 4480/KL-KTHS ngày 14/7/2023 của Phân viện Khoa học Hình sự Bộ C1 tại TP . (C) kết luận: Bà Võ Thị HPhan Thị Mỹ T4 (Võ Thị Mỹ T3) có quan hệ huyết thống mẹ - con; Ông Phan Đ1Phan Thị Mỹ T4 (Võ Thị Mỹ T3) không có quan hệ huyết thống cha – con; Phan Thị Mỹ T4 (Võ Thị Mỹ T3) và các bé Trần Ngọc T5, Trần Quốc KTrần Thị Ngọc H2 có quan hệ huyết thống mẹ - con; Giấy Khai sinh để xác định nhân thân của Phan Thị Mỹ T4Võ Thị Mỹ T3 đồng thời đã ra các Quyết định thay đổi Quyết định khởi tố bị can số: 135 ngày 20/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đối với Võ Thị Mỹ T3, Quyết định thay đổi Quyết định khởi tố bị can số: 136 ngày 20/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã đầy đủ và phù hợp với các quy định của pháp luật.

[III] Về nội dung: Trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị cáo Võ Thị Mỹ T3 đã khai và thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đã thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng số: 07/CT-VKSVN ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 09h00' ngày 27/02/2023, tại con đường bê tông trước nhà ông Nguyễn Đ thuộc thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, Võ Thị Mỹ T3 có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô biển số: 79V1-197.49 của bà Nguyễn Thị T trị giá 7.572.000 đồng (Bảy triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn đồng). Tiếp đến khoảng hơn 12h50' ngày 15/3/2023, tại đối diện cửa hàng X thuộc Tổ dân phố số A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, Võ Thị Mỹ T3 có hành vi lén lút trộm trộm cắp 01 xe mô tô biển số: 79V1-386.86 của bà Nguyễn Thị Xuân H1 trị giá 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản trộm cắp: 24.072.000 đồng (Hai mươi bốn triệu không trăm bảy mươi hai nghìn đồng).

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 ...thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”. Do đó,

bản Cáo trạng số 07/CT-VKSVN ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Võ Thị Mỹ T3 là hoàn toàn có cơ sở.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân nên vẫn thực hiện tội phạm. Bị cáo Võ Thị Mỹ T3 thực hiện việc trộm cắp tài sản 02 lần, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn phải truy nã gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, cần xét xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi, nhân thân của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.

Tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, truy tố; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và trước đó bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị Xuân H1; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc C, ông Nguyễn Quang T1 đã nhận lại tài sản đầy đủ và không còn yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xét.

Về vật chứng: Không có nên không xét.

Về án phí: Bị cáo Võ Thị Mỹ T3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Thị Mỹ T3;

Áp dụng Điều 292, Điều 293, Điều 331, Điều 333, Điều 336 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử phạt bị cáo: VÕ THỊ MỸ THIẾU 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 14 tháng 5 năm 2024 trở đi.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị Xuân H1; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc C, ông Nguyễn Quang T1 đã nhận lại tài sản đầy đủ và không còn yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xét.

Về vật chứng: Không có.

Về án phí: Bị cáo Võ Thị Mỹ T3 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo: Quyền kháng cáo của bị cáo Võ Thị Mỹ T3 là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị hại bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị Xuân H1 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc C, ông Nguyễn Quang T1 là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND huyện Vạn Ninh;
  • - Công an huyện Vạn Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Vạn Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Hồ sơ THA;
  • - Lưu: VT, HSVA, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Phấn

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Thạch Nguyễn Mai Thiện B

Nguyễn Thành P

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo: VÕ THỊ MỸ THIẾU 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 14 tháng 5 năm 2024 trở đi.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger