Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày: 05/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI- TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Nguyễn Chí Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Huy Lâm và bà Lê Thanh Nhàn.

Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thu Trang - chức danh: Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Vương Hải Nam - chức danh: Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn C, tên gọi khác: không, giới tính: nam, sinh ngày 05 tháng 6 năm 1985, tại huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Nơi thường trú: thôn S, xã P, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn C1 và bà Đoàn Thị S. Vợ: Dương Thị Thùy D. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: chưa có.

Nhân thân: ngày 17/11/2023, bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q khởi tố về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép”. Bị cáo bị tạm giữ ngày 09/10/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an tỉnh Q - có mặt tại phiên tòa.

  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
  • - Ông Tống Xuân T, sinh năm 1971
  • - Ông Nguyễn Bá V, sinh năm 1972
  • Đều có nơi công tác: Đồn biên phòng T2, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh - vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
  • * Người làm chứng: ông Vy Tiến Q, ông Hoàng Văn V1, bà Võ Thị V2 - đều vắng mặt.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/11/2023, tại khu T, phường T, thành phố M, Đồn biên phòng T2 kiểm tra phát hiện Nguyễn Văn C và P1 (Phan Kiến H), L (Lưu Tử H1) có hành vi tổ chức cho CHENG PENG HUI (Trịnh Bằng H2) và C3 (Trần Chí P) đều là người Trung Quốc xuất cảnh trái phép từ Việt Nam sang Trung Quốc.

Căn cứ vào tài liệu điều tra, ngày 10/11/2023 Đồn biên phòng T2 đã ra Lệnh bắt giữ người trong trong hợp khẩn cấp, Quyết định tạm giữ, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn C, Lưu Từ H3, Phan Kiến H và dẫn giải các đối tượng đến nhà tạm giữ Công an thành phố M. Tuy nhiên do Nguyễn Văn C bị 01 vết thương ở chân, có dấu hiệu nhiễm trùng nên Đồn biên phòng T2 đưa C đi kiểm tra sức khỏe ở Trung tâm y tế thành phố M. Tại đây, bác sĩ chẩn đoán vết thương của C bị nhiễm trùng nên yêu cầu cho C nhập viện để điều trị. Đồn biên phòng T2 cho C nhập viện điều trị tại phòng bệnh số 1, tầng 3, khoa ngoại của Trung tâm y tế thành phố M và ra quyết định phân công cán bộ luân phiên trực canh gác theo quy định. Ngày 13/11/2023, Đồn biên phòng T2 quyết định ra hạn lệnh tạm giữ lần thứ nhất đối với C trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày 13/11/2023 đến 16/11/2023, cùng ngày Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái phê chuẩn Quyết định ra hạn lệnh tạm giữ đối với C.

Khoảng 14 giờ ngày 14/11/2023, trong khi đang bị tạm giữ và điều trị vết thương tại Trung tâm y tế thành phố M, thuộc ca gác của ông Nguyễn Bá V (Thiếu tá - nhân viên trinh sát) và ông Tống Xuân T (Trung tá - nhân viên quân y), Nguyễn Văn C xin đi vệ sinh và lấy lý do chân bị đau xin được mở còng tay, còng chân. Ông T tháo còng tay, còng chân cho C vào nhà vệ sinh đóng cửa ông T đứng ngoài cửa trông coi. Lợi dụng lúc ông T sơ hở, C đã trèo qua ô thoáng trong nhà vệ sinh, leo từ tầng 3 xuống, rồi trèo qua tường phía sau Trung tâm y tế ra đường T, phường K, thành phố M, đón xe ôm đi đến khu nhà trọ cũ của C tại khu E, phường H, thành phố M gặp anh Nguyễn Văn T1 vay 20.000đồng trả tiền xe ôm. Sau đó, C nhờ anh Hoàng Công H4 điều khiển xe mô tô chở đến cổng khu công nghiệp T. Tại đây, C đón 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota-Inova (không rõ người lái và biển kiểm soát) đi đến cảng Đ, thành phố Hải Phòng. Trên đường đi C mượn điện thoại của lái xe gọi cho bạn gái là chị Võ Thị V2, sinh năm 1994, trú tại: thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình hỏi vay tiền và bảo V2 chuyển vào tài khoản do người lái xe cung cấp để trả tiền xe. Do không có tiền nên chị V2 đã liên lạc với người bạn tên G (không rõ lai lịch, địa chỉ) vay 03 triệu đồng và bảo G chuyển trực tiếp vào tài khoản của người lái xe. Sau khi nhận tiền người lái xe tính tiền xe hết 2.500.000 đồng, còn lại 500.000đồng trả lại cho C. Khoảng 17 giờ cùng ngày C đến cảng Đ đón xe ô tô khách đi tiếp đến địa phận tỉnh Nam Định và tiếp tục đón xe đi thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng 02 giờ ngày 15/11/2023, C đến thuê trọ tại nhà nghỉ H5 số A, đường Q, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Tại đây, C mượn điện thoại của chủ nhà nghỉ là ông Trần Văn C2 gọi điện thoại cho chị V2 đến nhà nghỉ và kể cho chị V2 biết C đang bị đồn biên phòng T2 bắt

3

giữ về hành vi tổ chức cho người khác xuất nhập cảnh trái phép và đang bỏ trốn. Chị V2 khuyên C ra đầu thú nhưng C bảo nghỉ ngơi rồi tính.

Đến khoảng 10 giờ cùng ngày C trả phòng và cùng chị V2 đi ăn sáng, mua đồ dùng cá nhân. Sau đó, C thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ X, số D đường P, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì Đồn biên phòng T2 phối hợp với Công an thành phố M bắt Nguyễn Văn C tại phòng 305 nhà nghỉ X, Công an thu giữ của C 01 ba lô màu đen, bên trong có 03 chiếc quần bò, 04 áo phông, 01 áo sơ mi, 01 áo khoác, 01 quần lót, 01 đôi dép màu đen.

Quá trình khám nghiệm tại Trung tâm y tế thành phố M Công an thu giữ 02 chiếc còng số 8.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Tống Xuân T và ông Nguyễn Bá V trình bày: các ông là cán bộ Đồn biên phòng T2, thành phố M thuộc Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Ninh. Ngày 19/11/2023, tại khu T, phường T, thành phố M, Đồn biên phòng T2 kiểm tra phát hiện Nguyễn Văn C và P1 (Phan Kiến H), L (Lưu Tử H1) có hành vi tổ chức cho CHENG PENG HUI (Trịnh Bằng H2) và C3 (Trần Chí P) đều là người Trung Quốc xuất cảnh trái phép từ Việt Nam sang Trung Quốc.

Căn cứ vào tài liệu điều tra, ngày 10/11/2023 Đồn biên phòng T2 đã ra Lệnh bắt giữ người trong trong hợp khẩn cấp, Quyết định tạm giữ, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn C, Lưu Từ H3, Phan Kiến H và dẫn giải các đối tượng đến Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Tuy nhiên, do Nguyễn Văn C bị 01 vết thương ở chân, có dấu hiệu nhiễm trùng nên Đồn biên phòng T2 đưa C đi kiểm tra sức khỏe ở Trung tâm y tế thành phố M. Tại đây, bác sĩ chẩn đoán vết thương của C bị nhiễm trùng nên yêu cầu cho C nhập viện để điều trị. Các ông được phân công nhiệm vụ trông coi, quản lý người bị tạm giữ là Nguyễn Văn C trong quá trình điều trị vết thương. Khoảng 14 giờ ngày 14/11/2023, Nguyễn Văn C xin đi vệ sinh và lấy lý do chân bị đau xin được mở còng tay, còng chân. Ông T tháo còng tay, còng chân cho C vào nhà vệ sinh đóng cửa ông T đứng ngoài cửa trông coi. Lợi dụng lúc ông T sơ hở, C đã trèo qua ô thoáng trong nhà vệ sinh, leo từ tầng 3 xuống, rồi trèo qua tường phía sau Trung tâm y tế ra đường T, phường K, thành phố M bỏ trốn. Sau khi phát hiện C bỏ trốn các ông đã báo cáo lãnh đạo cấp trên và Công an thành phố M để tổ chức vây bắt. Tuy nhiên, C đã bỏ trốn về tỉnh Hà Tĩnh nên đến khoảng 14 giờ ngày 15/11/2024 mới bắt được C tại tỉnh Hà Tĩnh đưa về Công an tỉnh Q.

Người làm chứng anh Hoàng Văn V1 trình bày: anh là bệnh nhân đang điều trị tại giường bệnh số 28, phòng số 1, tầng 3 khoa ngoại Trung tâm y tế thành phố M, tỉnh Quảng Ninh từ ngày 09/11/2023. Ngày 11/11/2023 có cán bộ Đồn biên phòng T2 thuộc Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Ninh đưa đối tượng Nguyễn Văn C vào điều trị vết thương tại giường số 30 phòng số 1, tầng 3 khoa ngoại Trung tâm y tế thành phố M cùng với anh. Trong quá trình điều trị anh có được biết C là đối tượng đang bị

4

giam, giữ về hành vi “Tổ chức cho người khác xuất, nhập cảnh trái phép”, suốt quá trình điều trị C được bác sĩ điều trị theo phác đồ và luôn luôn có sự canh gác, giám sát của các đồng chí Bộ đội biên phòng.

Khoảng 14 giờ ngày 14/11/2023, trong khi đang bị tạm giữ Nguyễn Văn C để điều trị vết thương tại Trung tâm y tế thành phố M, thuộc ca gác của ông Nguyễn Bá V (Thiếu tá - nhân viên trinh sát) và ông Tống Xuân T (Trung tá - nhân viên quân y), Nguyễn Văn C xin đi vệ sinh và lấy lý do chân bị đau xin được mở còng tay, còng chân. Ông T tháo còng tay, còng chân cho C vào nhà vệ sinh đóng cửa ông T đứng ngoài cửa trông coi. Lợi dụng lúc ông T sơ hở, C đã trèo qua ô thoáng trong nhà vệ sinh, leo từ tầng 3 xuống, rồi trèo qua tường phía sau Trung tâm y tế ra đường T, phường K, thành phố M bỏ trốn.

Ông Vy Tiến Q có lời khai: ông làm nghề xe ôm và thường xuyên đón khách tại Trung tâm y tế thành phố M gần vòng xuyến giao nhau giữa quốc lộ A với đường T, thành phố M. Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 14/11/2023, khi ông đang đỗ xe tại khu vực vỉa hè đường T (cách Trung tâm y tế thành phố M khoảng 50m) thì có 01 nam thanh niên mặc quần bệnh nhân, áo phông ngắn tay đi chân đất (sáu này làm việc với cơ quan điều tra ông mớ biết tên Nguyễn Văn C), đi hướng từ vỉa hè T (phía đối diện Trung tâm y tế thành phố) về phía ông, đồng thời vẫy tay và thuê ông chở về một khu nhà trọ thuộc khu E, phường H, thành phố M thì xuống xe và để áo bệnh nhân ở đuôi xe mô tô của ông rồi bảo vào lấy tiền ra trả, ông Q đồng ý. Khoảng 05 phút sau có 01 nam thanh niên không quen biết ra trả tiền ông. Sau khi lấy được tiền xe ông trả lại áo bệnh nhân cho người này mang vào cho C.

Người làm chứng chị Võ Thị V2 có lời khai: chị V2 và bị cáo C có tình cảm với nhau. Vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 14/11/2023, chị V2 nhận được điện thoại của C mượn của lái xe taxi gọi cho chị với nội dung cần vay chị số tiền 3.000.000 đồng, do công việc bận nên chị cũng không hỏi C vay làm gì. Do trong tài khoản chị không đủ số tiền trên nên chị gọi điện thoại cho anh G là bạn của chị và C hỏi vay số tiền trên, anh G đồng ý chị cho số tài khoản mà C cho chị để anh G chuyển tiền cho C vay. Đến khoảng 03 giờ ngày 15/11/2023 C lại mượn điện thoại của chủ nhà nghỉ H5 tại địa chỉ phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh để hẹn gặp chị tại nhà nghỉ. Sau khi nhận được điện thoại hẹn của C, chị V2 đến gặp C và được cường cho biết đang bỏ trốn khỏi nơi giam của Bộ đội biên phòng về hành vi tổ chức đưa người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, chị V2 đã khuyên C nên quay lại đầu thú không bỏ trốn như thế.

Sau khi nghỉ ngơi, khoảng 11 giờ chị V2 có dẫn C đi ăn uống và mua một ít quần áo và sau đó đến khoảng 14 giờ hai người đến thuê nhà nghỉ X, số D đường P, phường N, thị xã H thì bị lực lượng Công an và Bộ đội biên phòng bắt.

Bản cáo trạng số 200/CT-VKSMC ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” theo khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự.

5

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ quyền công tố nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” theo khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử bị cáo Nguyễn Văn C từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2023 (được trừ đi 03 ngày tạm giữ từ ngày 10/11/2023 đến 13/11/2023).

Phần tranh luận: bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” theo khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về chứng cứ: tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn C hoàn toàn nhận tội và khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

[3] Như vậy, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trước Tòa, lời khai của người làm chứng, sơ đồ hiện trường, bản thực nghiệm điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 14/11/2023, tại phòng bệnh số 1, tầng 3, khoa ngoại của Trung tâm y tế thành phố M, thuộc khu T, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Văn C đang trong thời gian bị tạm giữ hình sự, đã có hành vi bỏ trốn khỏi sự quản lý của cán bộ Đồn biên phòng T2, Bộ đội biên phòng Quảng Ninh.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm vào tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” theo khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 386. Tội trốn khỏi nơi giam, giữ.

6

“1. Người nào đang bị tạm giữ, tạm giam, áp giải, xét xử hoặc chấp hành án phạt tù mà bỏ trốn, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm hoạt động tư pháp, gây cản trở, ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, xâm phạm đến hoạt động quản lý người bị giam, giữ của cơ quan tiến hành tố tụng, gây tác hại trực tiếp đến uy tín cũng như việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền.

Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung và trừng trị riêng, giáo dục riêng cần có hình phạt nghiêm đối với bị cáo. Bản thân bị cáo là người đang bị tạm giữ để điều tra hành vi phạm tội khác, bị cáo không lấy đó làm bài học rèn luyện bản thân, ăn năn hối lỗi để phấn đấu rèn luyện cải tạo lao động tốt để sớm được quay trở về với gia đình và xã hội mà lại coi thường pháp luật, lợi dụng sơ hở của người có thẩm quyền trong khi đang bị tạm giữ bỏ trốn gây khó khăn trong việc điều tra, truy tố và xét xử.

Hành vi của bị cáo không những vi phạm quy định của Nhà nước về chế độ giam, giữ người phạm tội làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo bị cáo trở thành người tốt.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thì thấy:

  • - Tình tiết tăng nặng: bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tiền án, tiền sự chưa có. Do đó, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng: không có.

[8] Các tình tiết khác của vụ án: đối với ông Tống Xuân TNguyễn Bá V cán bộ Đ trong việc canh gác để Nguyễn Văn C bỏ trốn khỏi nơi giam, giữ. Tuy nhiên, bị cáo C bị khởi tố về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự. Do đó, ông T và ông V không phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 376 Bộ luật Hình sự. Đồn biên phòng T2 đã lập hồ sơ đề nghị Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Q xử lý theo quy định.

Đối với chị Võ Thị V2 được C nói cho biết việc C bỏ trốn khỏi nơi giam giữ, chị V2 đã khuyên C ra đầu thú nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải nộp theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

7

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 386, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 - Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn C 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi, giam, giữ”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2023. (Được trừ đi 04 ngày tạm giữ, từ ngày 09/11/2023 đến 13/11/2023).

- Về án phí và quyền kháng cáo: căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 - Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Móng Cái;
  • - Cơ quan điều tra cùng cấp;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự và hỗ trợ
  • tư pháp Công an thành phố Móng Cái;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Chi cục THADS thành phố Móng Cái;
  • - Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chí Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (trốn khỏi nơi giam, giữ)

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trốn khỏi nơi giam, giữ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án số 45
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger