Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03-7-2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Châu Hùng.
  2. Bà Ngô Thị Lệ Thi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2023/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 85A/2024/QÐST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024; giữa:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Tuyết L, sinh năm 1984; nơi cư trú: số E T, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Trương Tấn L1, sinh năm 1977; nơi cư trú: số A N, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Bà L có mặt, ông L1 vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Tuyết L trình bày:

Về hôn nhân: Bà L và ông Trương Tấn L1 tự tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2006, đăng ký kết hôn vào ngày 25 tháng 5 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng với gia đình ông L1, khoảng 01 năm sau vợ chồng chuyển về nhà cha mẹ ruột bà L tại địa chỉ số E T, khóm C, phường C, thành phố C sinh sống. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Đến tháng 7/2023, bà L và ông L1 không còn chung sống với nhau cho đến nay, nguyên nhân do ông L1 không chăm lo làm ăn, phụ giúp kinh tế gia đình và thường xuyên đánh bà L.

Nay tình cảm không còn nên bà Lê Thị Tuyết L yêu cầy ly hôn với ông Trương Tấn L1.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà L và ông L1 có 02 (hai) con chung tên Trương Chí D, sinh ngày 10/11/2007 và Trương Ngọc H, sinh ngày 15/11/2015. Bà L yêu cầu được nuôi dạy hai con chung, không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trương Tấn L1 trình bày:

Về hôn nhân và mâu thuẫn gia đình: Thống nhất với bà L về thời gian, điều kiện đi đến hôn nhân. Hiện nay ông L1 và bà L đã không còn chung sống với nhau. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do bà L đi làm việc tại các quán nhậu, ông L1 ghen tuông dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên gây cải và đánh nhau. Tuy vợ chồng có mâu thuẫn nhưng ông L1 không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà L.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 (hai) con chung tên Trương Chí D, sinh ngày 10/11/2007 và Trương Ngọc H, sinh ngày 15/11/2015. Hiện do bà L đang nuôi dạy, nếu ly hôn ông L1 đồng ý giao con chung cho bà L nuôi dạy theo nguyện vọng của các con, không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Quá trình chung sống, ông L1 khai vợ chồng có 01 (một) chiếc xe Wave, biển số 67E1-437.43, hiện do L đang quản lý sử dụng. Yêu cầu chia tài sản trên theo quy định pháp luật.

Về nợ chung: không có.

* Tại phiên tòa,

Nguyên đơn bà Lê Thị Tuyết L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xác định đã cung cấp đầy đủ tài liệu chứng cứ, không cung cấp gì thêm.

Chủ tọa công bố lại lời khai của bị đơn Trương Tấn L1 và các tài liệu chứng cứ khác.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: thực hiện đúng quy định tại Điều 48, Điều 195, Điều 196, Điều 198 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lí do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 BLTTDS.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Hôn nhân giữa bà L và ông L1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng.

Theo nguyên đơn quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, do ông L1 không chăm lo làm ăn, phụ giúp kinh tế gia đình và thường xuyên đánh bà L, vợ chồng không còn sống chung với nhau, không thể hàn gắn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L1. Bị đơn ông L1 thừa nhận vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do ông L1 ghen tuông dẫn đến việc vợ chồng có đánh nhau vài lần nhưng ông L1 không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà L. Trong thời gian vợ chồng không chung sống cũng như quá trình giải quyết, hòa giải của Tòa án bà L, ông L1 không chủ động hàn gắn tình cảm gia đình. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà L yêu cầu ly hôn với ông L1 là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà L và ông L1 có hai con chung tên Trương Chí D, sinh ngày 10/11/2007 và Trương Ngọc H, sinh ngày 15/11/2015, bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con. Qua ghi nhận ý kiến các con có nguyện vọng sống cùng bà L. Ông L1 đồng ý giao con chung cho bà L tiếp tục nuôi dạy. Xét, để đảm bảo ổn định cuộc sống, tâm lý của con, việc giao con chung cho bà L tiếp tục nuôi dạy là phù hợp quy định pháp luật, nguyện vọng của con chung, ghi nhận sự tự nguyện của bà L trong việc không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: nguyên đơn khai không có, không yêu cầu. Bị đơn cho rằng tài sản chung có (một) chiếc xe Wave, biển số 67E1-437.43, hiện do L đang đứng tên. Yêu cầu chia tài sản trên theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án Tòa án ra thông báo bị đơn giao nộp tài liệu chứng cứ cũng như nộp tạm ứng án phí nhưng phía bị đơn không thực hiện, nên không đủ cơ sở xem xét, nếu các đương sự có yêu cầu sẽ giải quyết bằng một vụ kiện khác.

Từ phân tích trên, Căn cứ các Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: bà Lê Thị Tuyết L được ly hôn với ông Trương Tấn L1; bà L được nuôi dạy hai con chung tên Trương Chí D, sinh ngày 10/11/2007 và Trương Ngọc H, sinh ngày 15/11/2015, ông L1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: bà Lê Thị Tuyết L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trương Tấn L1. Ông L1 có nơi cư trú trên địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: bị đơn ông Trương Tấn L1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông L1 theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

[3] Về hôn nhân:

Bà Lê Thị Tuyết L và ông Trương Tấn L1 tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số số 110/HT ngày 25 tháng 5 năm 2010 nên là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Qua các biên bản làm việc, biên bản ghi lời khai của bà Lê Thị Tuyết L và ông Trương Tấn L1 vào ngày 03/4/2024 tại Công an phường C, thành phố C thì trong đời sống vợ chồng bà L, ông L1 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Mặc khác, bà L và ông L1 đã không còn chung sống từ tháng 7/2023 đến nay.

Nhận thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà L và ông L1 đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L về việc ly hôn với ông L1 theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Bà L, ông L1 có 02 (hai) con chung tên Trương Chí D, sinh ngày 10/11/2007 và Trương Ngọc H, sinh ngày 15/11/2015, hiện bà L đang nuôi dạy; bà L có yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy hai con chung không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các con (theo Biên bản ghi ý kiến cháu Trương Chí D và Trương Ngọc H ngày 21/3/2024). Đồng thời, ông L1 đồng ý cho bà L nuôi dạy con chung, không cấp dưỡng nuôi con.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L, giao 02 (hai) con chung tên Trương Chí D, sinh ngày 10/11/2007 và Trương Ngọc H, sinh ngày 15/11/2015 cho bà L tiếp tục nuôi dạy, ông L1 không cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Lê Thị Tuyết L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Trương Tấn L1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có

thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[5] Về tài sản chung: ông L1 khai vợ chồng có 01 (một) chiếc xe môtô, hiệu Wave, biển số 67E1-437.43 hiện do L đang đứng tên và quản lý, sử dụng, ông L1 cầu chia tài sản trên theo quy định pháp luật.

Qua ghi nhận ý kiến của bà Nguyễn Thị T (mẹ ruột L): xe môtô nhãn hiệu Honda, màu sơn xanh đen bạc, số loại Wave, biển số 67E1-437.43 là do bà trực tiếp mua tại cửa hàng với giá 19.500.000 đồng nhưng đã cho bà L đứng tên sở hữu nên bà không có yêu cầu gì đối với xe này và từ chối tham gia tố tụng.

Tòa án đã thông báo ông L1 nộp tạm ứng án phí để xem xét việc chia tài sản chung nhưng ông L1 không thực hiện nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này, nếu ông L1 có yêu cầu sẽ được xem xét giải quyết trong vụ kiện khác.

[6] Về nợ chung: bà L, ông L1 khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Lê Thị Tuyết L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ông Trương Tấn L1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết L.

[1] Về hôn nhân: Bà Lê Thị Tuyết L được ly hôn với ông Trương Tấn L1.

Giấy chứng nhận kết hôn số 110/HT, quyển số 01/2010 ngày 25 tháng 5 năm 2010 của Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung: Bà Lê Thị Tuyết L được nuôi dạy con chung tên Trương Chí D, sinh ngày 10/11/2007 và Trương Ngọc H, sinh ngày 15/11/2015. Ông Trương Tấn L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Lê Thị Tuyết L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Trương Tấn L1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Lê Thị Tuyết L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003246 ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc. Bà Lê Thị Tuyết L đã nộp đủ án phí.

Ông Trương Tấn L1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bà Lê Thị Tuyết L có quyền kháng cáo Tòa án nhân dân tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông Trương Tấn L1 vắng mặt tại phiên tòa là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP. Châu Đốc;
  • - Chi cục THADS TP.Châu Đốc;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã, phường nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lâm Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hôn nhân gia đình và ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger