Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày: 03-7-2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Giang.

Thẩm phán: bà Nguyễn Thanh Minh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Nguyễn Văn Hẩn;
  • 2/ Ông Lê Thanh Tâm;
  • 3/ Bà Nguyễn Thị Hồng Minh.

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Thanh Giúp, ông Nguyễn Anh Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến tại điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, điểm cầu thành phần: phòng xử trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh T vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Đình T (Cu Đen), sinh ngày 25-3-1999 tại Tây Ninh. Nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: làm mướn; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1970; vợ con: chưa có;

Tiền án: tại Bản án số 43/2020/HSST ngày 08/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thi hành xong án phí ngày 24-9-2020; Chấp hành hình phạt xong vào ngày 29-01-2022. Chưa được xóa án tích.

2

Nhân thân: Tại QĐ số 07/QĐ-TA ngày 09-02-2018 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian là 18 tháng, kể từ ngày 19-01-2019 đến ngày 12-3-2019 bị cáo được cấp giấy xác nhận chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 24-4-2023, chuyển sang tạm giam ngày 27-4-2023 cho đến nay. (có mặt)

2/ Nguyễn Văn V, sinh ngày 16-3-2003 tại Tây Ninh. Nơi cư trú: Khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: không có; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1972 và bà Huỳnh Thị T1, sinh năm 1978; vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị bắt tạm giam ngày 06-3-2024 cho đến nay. (có mặt)

3/ Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 29-9-2004 tại Tây Ninh. Nơi cư trú: Khu phố E, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Tạm trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: làm mướn; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T2 sinh năm 1988 và bà Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1987; vợ con: chưa có; Tiền án: Không có;

Tiền sự: tại Quyết định xử phạt hành chính số 41 ngày 02-11-2023 của Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, xử phạt Nguyễn Minh Đ 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đã nộp phạt ngày 30-01-2024. Chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bị bắt tạm giam ngày 04-02-2024 cho đến nay. (có mặt)

- Người bào chữa (theo chỉ định) cho bị cáo Nguyễn Đình T: Bà Võ Hương Đ - Luật sư của Công ty L1 - thuộc Đoàn luật sư tỉnh T. (có mặt)

Bị hại: Doanh nghiệp tư nhân T9 - Đại diện theo pháp luật bà Đặng Thị P, sinh năm 1975 là chủ doanh nghiệp; Địa chỉ: Số F, Tổ H, Khu phố B, đường P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Dương Liền H, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số F, Tổ H, Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Dương Liền H, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số F, Tổ H, Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

3

Bị cáo Nguyễn Đình T, là nhân viên làm thuê tại tiệm vàng “Tư Núi” của vợ chồng bà Đặng Thị P, ông Dương Liền H, ngụ Khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (T là cháu của vợ ông H), bị cáo T được giao nhiệm vụ là kiểm tra vàng khi khách đến giao dịch mua bán, cầm cố. Do muốn có tiền tiêu xài và trả nợ, bị cáo T đã mua vàng giả tại tiệm bạc “Vạn Phúc” của ông Đoàn Văn P1, ngụ Khu phố B, thị trấn T, huyện T (ông P1 không biết việc T mua vàng giả để thực hiện hành vi phạm tội). Sau đó, bị cáo T trực tiếp viết giấy biên nhận cầm vàng giả hoặc có sự giúp sức của bị cáo Nguyễn Văn V, bị can Nguyễn Anh K, bị can Trần Quốc A, bị cáo Nguyễn Minh Đ mang vàng giả đến tiệm V1. Khi cầm vàng giả, bị cáo T kiểm tra và nói dối với ông H là vàng thật để ông H tin tưởng nhận cầm và đưa tiền. Trong khoảng thời gian từ ngày 26-02-2023 đến ngày 20-4-2023, bị cáo T cùng bị cáo V, bị can K, bị can A, bị cáo Đ đã thực hiện 20 lần cầm cố vàng giả tại tiệm vàng “Tư Núi” chiếm đoạt của bà P, ông H, tổng số tiền 639.000.000 đồng, cụ thể từng lần như sau:

  • Lần thứ nhất: Ngày 26-02-2023, bị cáo T dùng vàng giả và tự ghi tên người cầm cố trong giấy biên nhận là “T4”, cầm cho ông H, bà P chiếm đoạt số tiền 19.000.000 đồng.
  • Lần thứ hai: Ngày 01-3-2023, bị cáo T dùng vàng giả và tự ghi tên người cầm cố trong giấy biên nhận là “T5”, cầm cho bà P, ông H chiếm đoạt số tiền 11.000.000 đồng.
  • Lần thứ ba: Ngày 03-3-2023, bị cáo T dùng vàng giả và tự ghi tên người cầm cố trong giấy biên nhận là “chị L”, cầm cho ông H, bà P chiếm đoạt số tiền 24.000.000 đồng.
  • Lần thứ tư: Ngày 10-3-2023, bị cáo T dùng vàng giả và tự ghi tên người cầm cố trong giấy biên nhận là “A1”, cầm cho ông H, bà P chiếm đoạt số tiền 26.000.000 đồng.
  • Lần thứ năm và thứ sáu: Ngày 13-3-2023, bị cáo T dùng vàng giả và tự ghi tên người cầm cố trong giấy biên nhận là “N”, cầm cho ông H, bà P chiếm đoạt số tiền 23.000.000 đồng. Sau đó, tiếp tục ghi tên người cầm cố trong giấy biên nhận là “Dì Ly”, cầm cho ông H, bà P chiếm đoạt số tiền 29.000.000 đồng.
  • Lần thứ bảy: Ngày 16-3-2023, bị cáo T dùng vàng giả và tự ghi tên người cầm cố trong giấy biên nhận là “Dì Xiêng”, cầm cho ông H, bà P chiếm đoạt số tiền 45.000.000 đồng.
  • Lần thứ tám và thứ chín: Ngày 19-3-2023 và ngày 23-3-2023, bị cáo T nhờ bị cáo Nguyễn Văn V mang vàng giả đến tiệm V1, bị cáo T ghi tên người cầm cố trong 02 giấy biên nhận là “V”, với sự giúp sức của bị cáo V, bị cáo T đã 02 lần chiếm đoạt của ông H, bà P tổng số tiền 70.000.000 đồng (lần thứ tám: 25.000.000 đồng, lần thứ chín: 35.000.000 đồng).

4

  • Lần thứ mười: Ngày 25-3-2023, bị cáo T dùng vàng giả và tự ghi tên người cầm cố trong giấy biên nhận là “H1”, cầm cho ông H, bà P chiếm đoạt số tiền 41.000.000 đồng.
  • Lần thứ mười một: Ngày 27-3-2023, bị cáo T dùng vàng giả và tự ghi tên người cầm cố trong giấy biên nhận là “Dì M”, cầm cho ông H, bà P chiếm đoạt số tiền 24.000.000 đồng.
  • Lần thứ mười hai: Ngày 28-3-2023, bị cáo T dùng vàng giả và tự ghi tên người cầm cố trong giấy biên nhận là “Dì T6”, cầm cho ông H, bà P chiếm đoạt số tiền 37.000.000 đồng.
  • Lần thứ mười ba: Ngày 01-4-2023, bị cáo T dùng vàng giả và tự ghi tên người cầm cố trong giấy biên nhận là “N”, cầm cho ông H, bà P chiếm đoạt số tiền 23.000.000 đồng.
  • Lần thứ mười bốn và thứ mười lăm: Ngày 03-4-2023 và ngày 06-4-2023, bị cáo T nhờ bị can Nguyễn Anh K mang vàng giả đến tiệm V1, bị cáo T ghi tên người cầm cố trong 02 giấy biên nhận là “Dì P2”, với sự giúp sức của bị can K, bị cáo T đã 02 lần chiếm đoạt của ông H, bà P tổng số tiền 70.000.000 đồng (lần thứ mười bốn: 48.000.000 đồng, lần thứ mười lăm: 22.000.000 đồng). Sau khi chiếm đoạt được tiền, bị cáo T cho bị can Kiệt 300.000 đồng.
  • Lần thứ mười sáu và thứ mười bảy: Ngày 07-4-2023 và ngày 15-4-2023, bị cáo Tuấn nhờ bị can Trần Quốc A mang vàng giả đến tiệm V1, bị cáo T ghi trong tên người cầm cố 02 giấy biên nhận là “8 Tiền” và “T7”, với sự giúp sức của Quốc A, T đã 02 lần chiếm đoạt của ông H, bà P tổng số tiền 69.000.000 đồng (lần thứ mười sáu: 26.000.000 đồng, lần thứ mười bảy: 43.000.000 đồng). Sau khi chiếm đoạt được tiền, bị cáo T cho bị can Anh 2.500.000 đồng.
  • Lần thứ mười tám: Ngày 09-4-2023, bị cáo T dùng vàng giả và tự ghi tên người cầm cố trong giấy biên nhận là “Dì H2”, cầm cố cho bà P, ông H chiếm đoạt số tiền 44.000.000 đồng.
  • Lần thứ mười chín: Ngày 17-4-2023, bị cáo T dùng vàng giả và tự ghi tên người cầm cố trong giấy biên nhận là “Bé”, cầm cho bà P, ông H chiếm đoạt số tiền 47.000.000 đồng.
  • Lần thứ hai mươi: Ngày 20-4-2023, bị cáo T nhờ bị cáo Nguyễn Minh Đ mang vàng giả đến tiệm V1 số tiền 37.000.000 đồng thì bị cáo Đại đồng ý. Sau đó, bị cáo Đ mang vàng giả đến tiệm đưa cho bị áo T, sau khi kiểm tra bị cáo T nói đối là vàng thật chấp nhận cầm cố, bị cáo T đưa vàng cho chị Dương Thanh N1 (con gái của ông H) cất giữ. Chị N1 nghi ngờ nên báo cho ông H kiểm tra thì phát hiện vàng giả. Bị cáo Đ bỏ chạy, lần này chưa chiếm đoạt được tiền.

Sau đó, ông H kiểm tra lại toàn bộ số vàng do bị cáo T kiểm tra, viết biên nhận cầm cố đều là vàng giả nên đến Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh trình báo sự việc, đến ngày 23-4-2023, bị cáo T ra đầu thú.

5

Tại Bản kết luận giám định số 3778 ngày 23-6-2023 của Phân Viện khoa học hình sự Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

  • 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, có chữ và số 10K, trọng lượng 06 chỉ 09 phân 06 ly rưỡi (26,2429 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 95,68%, đồng (Cu): 2,74%.
  • 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, trọng lượng 05 chỉ 02 phân 01 ly rưỡi (19,6497 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 89,21%.
  • 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình móc neo tàu, trọng lượng 05 chỉ 06 phân 09 ly (21,4270 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 95,52%, đồng (Cu): 1,72%.
  • 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình móc neo tàu, trọng lượng 07 chỉ 02 phân 09 ly rưỡi (27,4747 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 93,90%, đồng (Cu): 1,31%.
  • 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, trọng lượng 04 chỉ 08 phân 09 ly (18,4481 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 95,86%.
  • 01 lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, trọng lượng 03 chỉ 08 phân 02 ly rưỡi và 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, trọng lượng 06 chỉ 05 ly rưỡi (tổng trọng lượng 37,2167 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 94,64%, đồng (Cu): 1,30%.
  • 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, có số ký tự 95%, trọng lượng 09 chỉ 01 phân nửa ly (34,2341 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 76,00%, đồng (Cu): 1,96%.
  • 01 lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, trọng lượng 09 chỉ 09 phân 07 ly rưỡi (37,4747 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 95,48%, đồng (Cu): 1,95%.
  • 01 lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, trọng lượng 04 chỉ 04 phân 02 ly và 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, trọng lượng 06 chỉ 05 phân mốt (tổng trọng lượng 41,0799 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 93,36%, đồng (Cu): 1,92%.
  • 01 lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, trọng lượng 05 chỉ 05 phân 05 ly (20,8636 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 93,98%, đồng (Cu): 1,23%.
  • 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình móc neo tàu, trọng lượng 08 chỉ 01 phân 02 ly rưỡi (30,5151 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 94,64%, đồng (Cu): 1,93%.
  • 01 lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, trọng lượng 03 chỉ 08 phân mốt (14,3297 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 97,63%.

6

  • 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình móc neo tàu, trọng lượng 09 chỉ 08 phân 02 ly rưỡi (36,9262 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 94,79%, đồng (Cu): 1,80%.
  • 01 lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, trọng lượng 03 chỉ 02 phân 09 ly (12,3668 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 92,59%.
  • 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình móc neo tàu, trọng lượng 05 chỉ 02 phân mốt (19,5487 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 97,81%.
  • 01 lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, trọng lượng 04 chỉ 04 phân 02 ly và 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, trọng lượng 05 chỉ 07 phân 02 ly (tổng trọng lượng 38,1089 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 92,82%, đồng (Cu): 1,90%.
  • 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, trọng lượng 10 chỉ (38,1106 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 94,10%, đồng (Cu): 1,78%.
  • 01 lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, trọng lượng 03 chỉ 07 phân 07 ly rưỡi và 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, trọng lượng 06 chỉ 09 ly rưỡi (tổng trọng lượng 37,0747 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 94,58%, đồng (Cu): 1,99%.
  • 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, trọng lượng 04 chỉ 04 ly rưỡi (15,1528 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là đồng (Cu): 89,96%, kẽm (Z): 9,72%.
  • 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu bạc, có mặt dây chuyền hình móc neo tàu, trọng lượng 07 chỉ 07 phân 05 ly rưỡi (29,1391 gam) có thành phần kim loại chủ yếu là bạc (Ag): 93,01%, đồng (Cu): 2,39%.

Về bồi thường thiệt hại: ông Dương Liền H, bà Đặng Thị P yêu cầu bồi thường số tiền 602.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Đình T tác động gia đình bồi thường được số tiền 300.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn V tác động gia đình bồi thường số tiền 35.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 13/CT-VKSTN-P3 ngày 10-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố: Bị cáo Nguyễn Đình T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Văn V bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Minh Đ bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa sơ thẩm;

Các bị cáo T, Đại thừa nhận toàn bộ nội dung bản Cáo trạng, khi nhận bản áo trạng bị cáo V có ý kiến là khi cầm vàng đi thế chấp không biết đó là vàng giả nhưng tại phiên tòa bị cáo xác định Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo không oan.

7

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Tây Ninh phát biểu: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố, đề nghị tuyên bố các bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Đình T: Từ 12 đến 14 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn V: Từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  3. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Minh Đ: Từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 48 BLHS; Điều 584, 589 BLDS, đề nghị buộc bị cáo Nguyễn Đình T có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại theo quy định của pháp luật

Các bị cáo không tự bào chữa.

Người bào chữa cho bị cáo T trình bày: Không có ý kiến về các điều luật áp dụng đối với bị cáo. Trình bày một số tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo T như sau: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của bộ luật Hình sự. Bị cáo tác động gia đình bồi thường 300.000.000 đồng là tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi bị cáo ra đầu thú đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra phát hiện ra người phạm tội mới trong vụ án này là bị cáo Đ, tại công văn 212 năm 2019 đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm t khoản 1 Điều 51, khoản 2 của Bộ luật Hình sự. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ s, b, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. T8 thấp hơn mức của Viện kiểm sát đề nghị.

Viện kiểm sát đối đáp: Bị cáo T đầu thú, Luật sư đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 của bộ luật Hình sự đây là khoản tùy nghi, do Hội đồng xét xử xem xét. Vụ án bị bắt quả tang, bị cáo tự khai ra những lần phạm tội trước đó và đồng phạm khác là tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc điểm s khoản 1 Đều 51 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã đề nghị, không có căn cứ thuộc điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo chủ mưu, cầm đầu, trực tiếp rủ rê, lôi kéo đồng phạm thực hiện, bản thân thực hiện 20 lần phạm tội, xét

8

tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm, không đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa bị hại đã yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật. Giữ nguyên quan điểm đã phát biểu.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Tây Ninh, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.1] Về thủ tục tố tụng đối với bị can Trần Quốc A, Nguyễn Anh K: hai bị can đã bị khởi tố và trong thời gian tại ngoại điều tra đã bỏ trốn, cơ quan cảnh sát điều tra đã ra các quyết định truy nã, cụ thể là Quyết định truy nã số 455/QĐ-VPCQCSĐT và 456/QĐ-VPCQCSĐT ngày 28-4-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra truy nã đối với hai bị can Nguyễn Anh K và Trần Quốc A. Tại Quyết định số 460/QĐ-VPCQCSĐT và Quyết định số 461/QĐ-VPCQCSĐT ngày 29-4-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã Tạm đình chỉ điều tra bị can Trần Quốc A và Nguyễn Anh K. Tại Quyết định số 146/QĐ-VPCQCSĐT ngày 29-4-2024 của cơ quan cảnh sát điều tra đã tách vụ án hình sự đối với hai bị cán K và Quốc A ra giải quyết trong vụ án khác khi bắt được các bị can là đúng thủ tục quy định tại Điều 170, Điều 231 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1.2] Về kết luận giám định: Các bị cáo thống nhất kết luận giám định số 3778 ngày 23-6-2023 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ công an Thành phố C. Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2] Hành vi của các bị cáo thể hiện như sau: Bị cáo Nguyễn Đ1 là người làm thuê cho tiệm vàng “Tư Núi” tại thị trấn T do bà Đặng Thị P làm chủ doanh nghiệp, công việc được giao là kiểm tra, thẩm định vàng thật hay giả khi khách hàng đến giao dịch mua bán, cầm cố tại tiệm vàng, lợi dụng sự tin tưởng của chủ tiệm vàng là không có kiểm tra lại vàng sau khi bị cáo T đã kiểm tra, nên bị cáo T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của tiệm vàng, đã dùng thủ đoạn gian dối mua nữ trang là dây chuyền và lắc đeo tay là đồng, bạc, kẽm mạ vàng (giả vàng) trá hình là vàng thật thông qua hình thức thế chấp do T kiểm tra ghi biên nhận và báo cáo lại để chủ tiệm V2 là thế chấp vàng thật nên đã giao tiền cho các bị cáo. Trong thời gian từ 26-02-2023 đến 20-4-2023 bị cáo T và các đồng phạm Nguyễn Văn V, Nguyễn Minh Đ, Trần Quốc A, Nguyễn Anh K đã thực hiện 20 lần chiếm đoạt số tiền 602.000.000 đồng, lần thứ 20 đang thực hiện hành vi chiếm đoạt số tiền 37.000.000 đồng thì bị phát hiện bắt

9

quả tang bị cáo Đ bỏ chạy. Tại kết luận giám định số 3778 ngày 23-6-2023 của Phân viện Khoa học hình sự Công an thành phố C kết luận: 12 sợi dây chuyền và 08 lắc đeo tay, có thành phần kim loại chủ yếu là Đ2, bạc, kẽm không phải là vàng 18k, 24k, vàng 10 như bị cáo T ghi trong biên nhận cầm cố tài sản. Đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn V, Nguyễn Minh Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn tại địa phương. Cần xử lý nghiêm các bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Vụ án mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo T gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân T9. Đối với bị cáo V, bị cáo Đại số lần tham gia ít hơn, tuy nhiên các bị cáo đều nhận thức rõ việc dùng vàng giả thế chấp qua mặt chủ tiệm vàng để lấy tiền là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích, động cơ, tư lợi cá nhân. Cần xử lý nghiêm các bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

[5] Xét tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo thấy rằng:

[5.1] Đối với bị cáo T: là người chủ mưu, rủ rê, cấu kết chặt chẽ với các bị cáo V, bị cáo Đ khi thực hiện tội phạm, bị cáo chủ động mua vàng giả, lựa chọn thời gian thích hợp để thông báo cho đồng phạm cùng thực hiện, trực tiếp tham gia 20 lần, để không bị phát hiện bị cáo rủ rê các bị cáo V, Đ cùng tham gia, bị cáo phạm tội liên tục trong thời gian ngắn, nguy hiểm hơn là cùng ngày 13-3-2023 bị cáo thực hiện tội phạm hai lần, lần 1 ghi tên người cầm cố trong biên nhận là “Nhi” để chiếm đoạt 23.000.000 đồng, và lần 2 ghi tên người cầm cố là “Dì Ly” để chiếm đoạt 29.000.000 đồng thể hiện tính liên tục, quyết tâm khi thực hiện tội phạm, mức độ nguy hiểm cho xã hội rất cao, cần áp dụng mức án cao và nghiêm khắc đối với bị cáo.

[5.2] Đối với bị cáo V: là người giúp sức cho bị cáo T thực hiện tội phạm 02 lần vào ngày 19-3-2023 và 23-3-2023, với tổng số tiền chiếm đoạt là 70.000.000 đồng. Biết rõ vàng đem đến tiệm V3 thế chấp do bị cáo T đưa là vàng giả nhưng vẫn cố ý thực hiện trót lọt. Cần áp dụng mức án nghiêm sau bị cáo T.

[5.3] Đối với bị cáo Đ: là người giúp sức cho bị cáo T thực hiện 01 lần là ngày cuối cùng 20-4-2023 với số tiền 37.000.000 đồng, do nghi ngờ nên chủ tiệm vàng kiểm tra lại và phát hiện thì bị cáo Đ bỏ chạy. Chưa chiếm đoạt được tiền, bản thân bị cáo bị xử phạt hình chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào ngày 02-11-2022 chưa hết hạn được coi là chưa bị xử phạt hành chính, cần áp dụng mức án ngang bằng bị cái V là phù hợp.

10

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, với tình tiết định khung chiếm đoạt “tài sản với trị giá 500.000.000 đồng trở lên”; bị cáo V bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a, c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung phạm tội “có tổ chức” và “giá trị tài sản chiếm đoạt từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”; Bị cáo Đ bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung phạm tội “có tổ chức” là có căn cứ.

[6] Khi quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, cụ thể:

[6.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo T bàn bạc thỏa thuận với các bị cáo V, Đ và với các bị can K, Quốc A về thời gian, địa điểm, số tiền chiếm đoạt do đó, thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, bị cáo T đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành hình phạt xong vào ngày 29-01-2022 chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm; và bị cáo phạm tội hai lần trở lên, cụ thể trong vụ án này phạm tội 20 lần, Bị cáo T có 3 tình tiết tăng nặng: a (phạm tội có tổ chức); g (hai lần trở lên); h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo V: Tham gia thực hiện tội phạm 02 lần là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Đ: Không có tình tiết tăng nặng.

[6.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự cho 03 bị cáo.

Bị cáo T tác động gia đình bồi thường 300.000.000 đồng cho bị hại, sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, bị cáo T ra đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo T đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là vì đã tích cực tác động với cơ quan điều tra trong quá điều tra phát hiện ra bị cáo Đ. Xét thấy, ngày 20-4-2022 khi bị chủ tiệm vàng phát hiện bị cáo Đ bỏ chạy, bị cáo T lẫn trốn đến đến ngày 23-4-2023 bị hại có đơn tố cáo gửi công an đến ngày 24-4-2023 bị cáo đầu thú tại biên bản đầu thú này bị cáo không khai báo về đồng phạm Đ, sau đó, trong quá trình điều tra mới khai báo. Do đó, không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự như lời trình bày của luật sư.

Đối với đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa không có ý kiến về hình phạt, yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật, trước có làm đơn bãi nại là gia đình bị cáo hứa hẹn trả đủ số tiền chiếm đoạt nhưng hiện nay không trả. Xét thấy không có căn cứ áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự về

11

tình tiết giảm nhẹ này. Bị cáo phạm tội có 3 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và với tính chất mức độ như đã nhận định trên, không đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự như luật sư trình bày.

Bị cáo Vũ tác động gia đình bồi thường 35.000.000 đồng là một nữa số tiền của 2 chiếm đoạt cho bị hại, có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự .

Bị cáo Đ phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt, có căn cứ áp dụng hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt theo Điều 57 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

[7] Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có nghĩa vụ bồi thường số tiền chiếm đoạt cho bị hại, cụ thể: Bị hại yêu cầu bồi thường 602.000.000 đồng, bị cáo T đã tác động gia đình bồi thường 300.000.000 đồng, và bị cáo Vũ tác đ gia đình bồi thường 35.000.000 đồng, tổng cộng là 335.000.000 đồng, còn lại 267.000.000 đồng.

[7.1] Thấy rằng bị cáo V tham gia 02 lần cùng bị cáo T, số tiền chiếm đoạt 70.000.000 đồng đã bồi thường 35.000.000 đồng. Ghi nhận đã bồi thường xong. Đối với bị cáo Đ phạm tội chưa đạt, chưa nhận tiền, trong số tiền bồi thường còn lại không có số tiền phạm tôi của bị cáo Đ. Do đó, bị cáo T phải chịu bồi thường toàn bộ số tiền còn lại là 267.000.000 đồng.

[8] Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 12 sợi dây chuyền và 08 lắc đeo tay có thành phần kim loại chủ yếu là bạc, đồng, kẽm tiêu hủy.

[9] Về án phí: các bị cáo T, V, Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo T phải chịu 13.350.000 đồng (mười ba triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn V, Nguyễn Minh Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, h, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24-4-2023.

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54;Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06-3-2024.

12

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04-02-2024 .

2. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 46, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 588, Điều 589 của Bộ luật Dân sự.

Buộc các bị cáo Nguyễn Đình T và Nguyễn Văn V liên đới bồi thường cho Doanh nghiệp tư nhân T9 đại diện theo pháp luật là bà Đặng Thị P số tiền 602.000.000 đồng (sáu trăm lẽ hai triệu đồng). Ghi nhận đã bồi thường 335.000.000 đồng (ba trăm ba mươi lăm triệu đồng), trong đó, bị cáo T đã bồi thường 300.000.000 đồng, bị cáo V đã bồi thường 35.000.000 đồng. Bị cáo T có nghĩa vụ bồi thường số tiền còn lại 267.000.000 đồng (hai trăm sáu mươi bảy triệu đồng).

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, có chữ và số 10K, có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 95,68%, Đ2 (Cu): 2,74%; khối lượng sau giám định: 26,2310 gam.
  • 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 89,21%; khối lượng sau giám định: 19,6421 gam.
  • 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình móc neo tàu, có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 95,52%, Đ2 (Cu): 1,72%; khối lượng sau giám định: 21,4212 gam.
  • 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình móc neo tàu, có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 93,90%, Đ2 (Cu): 1,31%; khối lượng sau giám định: 27,4689 gam.
  • 01 (một) sợi dây chuyền bàng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 95,68%; khối lượng sau giám định: 18,4422 gam.
  • 01 (một) lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng và 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 94,64%, Đ2 (Cu): 1,30%; khối lượng sau giám định: 37,2115 gam.
  • 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, có số ký tự 95%, có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 76,00%, Đ2 (Cu): 1,96%; khối lượng sau giám định: 34,2276 gam.
  • 01 (một) lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, thành phần kim loại chủ yếu là B2 (A2): 95,48%, Đ2 (Cu): 1,95%; khối lượng sau giám định: 37,4719 gam.

13

  • 01 (một) lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng và 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 93,36%, Đ2 (Cu): 1,92%; khối lượng sau giám định: 41,0737 gam.
  • 01 (một) lắc đeo tay bàng kim loại màu vàng có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 93,98 %, Đ2 (Cu): 1,23%; khối lượng sau giám định: 20,8548 gam.
  • 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình móc neo tàu có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 94,64 %, Đ2 (Cu): 1,93%; khối lượng sau giám định: 30,5077 gam.
  • 01 (một) lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 97,63%; khối lượng sau giám định: 14,3218 gam.
  • 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình móc neo tàu có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 94,79%, Đ2 (Cu): 1,80%; khối lượng sau giám định: 36,9219 gam.
  • 01 (một) lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 92,59%; khối lượng sau giám định: 12,3601gam.
  • 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình móc neo tàu có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 97,81%; khối lượng sau giám định: 19,5405 gam.
  • 01 (một) lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng và 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 92,82%, Đ2 (Cu): 1,90%; khối lượng sau giám định: 38,1012 gam.
  • 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, có mặt dây chuyền hình móc neo, có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 94,10%, Đ2 (Cu): 1,78%; khối lượng sau giám định: 38,1023 gam.
  • 01 (một) lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng và 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 94,58%, Đ2 (Cu): 1,99%; khối lượng sau giám định: 37,0656 gam.
  • 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, không có mặt dây chuyền, có thành phần kim loại chủ yếu là Đ2 (Cu): 89,96%, K1 (Z): 9,72%; khối lượng sau giám định: 15,1465 gam.
  • 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền hình móc neo tàu có thành phần kim loại chủ yếu là B2 (Ag): 93,01%, Đ2 (Cu): 2,39%; khối lượng sau giám định: 29,1317 gam.

(Các đồ vật trên hiện Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10-4-2024).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

14

Các bị cáo Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn V, Nguyễn Minh Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo T phải chịu 13.350.000 đồng (mười ba triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng ) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành xong các khoản tiền trên, nếu bị cáo T chưa thi hành án xong số tiền trên thì còn phải chịu lãi suất chậm thi hành theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo, người tham gia tố tụng biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương/.

Nơi nhận:

  • - Vụ 1 GĐKT. TANDTC;
  • - TANDCC tại TP. HCM;
  • - VKSNDCC tại TP. HCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VP. CQCSĐT CA tỉnh;
  • - Phòng PC 06 CA tỉnh TN;
  • - Cục THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Trại tạm giam;
  • - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án HSST.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Thanh Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger