TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/DS-ST Ngày: 03-7-2024 V/v tranh chấp đòi tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thu Thủy;
Ông Vũ Xuân Chính.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Ông Phạm Văn X, sinh năm 1948 (vắng).
Người đại diện theo ủy quyền cho ông X: Bà Dương Thị M, sinh năm 1952 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968 (xin vắng) và ông Lê Văn N1, sinh năm 1965 (vắng).
Nơi cư trú: Ấp L, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Dương Thị M trình bày:
Ngày 21/11/2015, ông X cho vợ chồng bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1 mượn số tiền là 40.000.000 đồng, có làm biên nhận ông N1 ký nhận nợ và được trưởng Ban N2, xã T chứng kiến.
Bà M xác định vợ chồng bà N và ông N1 đã trả được 10.000.000 đồng, còn nợ lại 30.000.000 đồng.
Nay nguyên đơn chỉ yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1 liên đới trả cho ông số tiền còn nợ là 30.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
- Ngày 25/6/2024, Tòa án lấy lời khai đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà N xác nhận khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn đúng. Bà N thừa nhận vợ chồng ông bà còn nợ tiền ông X là 30.000.000 đồng. Vợ chồng bà đồng ý trả nợ cho ông X nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, ông N1 (chồng bà) đang bệnh ung thư nên chưa có khả năng.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử: Đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 166 Bộ luật dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn X đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1, buộc vợ chồng ông N1 và bà N liên đới trả ông X số tiền là 30.000.000 đồng. Án phí bị đơn chịu theo pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định chỉ khởi kiện vợ chồng bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1 liên đới trả số tiền còn nợ là 30.000.000 đồng, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Toà án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp đòi tài sản.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị N có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; ông Lê Văn N1 vắng mặt xét xử lần 2. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bà N và ông N1.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1 liên đới trả cho số tiền nợ là 30.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông X có cho vợ chồng bà N và ông N1 mượn tiền không có lãi là 40.000.000 đồng theo biên nhận ngày 21/11/2015, bà N và ông N1 đã trả được 10.000.000 đồng, hiện nay vợ chồng bà N và ông N1 còn nợ 30.000.000 đồng. Bà N cũng thừa nhận hiện nay vợ chồng bà còn nợ tiền ông X là 30.000.000 đồng, vợ chồng bà đồng ý liên đới trả nợ cho ông X.
Ông Lê Văn N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và không ý kiến phản đối khởi kiện của ông Phạm Văn X. Mặt khác, việc mượn tiền giữa các đương sự diễn ra trong thời kỳ hôn nhân, theo quy định tại Điều 27 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình thì vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới và có nghĩa vụ chung về tài sản vì nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu gia đình.
Do đó, việc ông Phạm Văn X yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1 trả số tiền còn nợ 30.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[3] Thống nhất ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án như đã phân tích và nhận định trên.
[4] Căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình; Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn X; buộc bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1 phải liên đới trả cho ông X số tiền còn nợ là 30.000.000 đồng.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên buộc bà N và ông N1 liên đới phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải trả cho ông X là: 30.000.000 đồng x 5% = 1.500.000 đồng.
Ông X là người cao tuổi được miễn dự nộp án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các điều 227, 228, 266 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng: Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn X về việc khởi kiện đòi tài sản đối với bà Nguyễn Thị N, ông Lê Văn N1.
- - Buộc bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1 có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Phạm Văn X số tiền còn nợ là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thanh toán tại thời điểm thi hành án.
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn N1 có nghĩa vụ nộp án phí là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng).
- Ông Phạm Văn X là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và tiền án phí.
- “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
- - Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thùy Linh |
4
Bản án số 45/2024/DS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 45/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hụi
