|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do- Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 45/2024/DSST
Ngày 03/5/2024
Về tranh chấp hợp đồng
dịch vụ pháp lý và
tiền phạt hợp đồng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Duệ.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Dương Thị Kim Lan.
2/ Ông Kiều Xuân Mai.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Thùy Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 18/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 01 năm 2024 về Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý (Đòi tiền hợp đồng dịch vụ pháp lý và tiền phạt hợp đồng). Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-DS ngày 29/3/2024; Quyết định hõan phiên tòa số: 25/2024/QĐ-HPT ngày 19/4/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Công ty L.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1941.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Vũ Thị H, sinh năm 1974.
- Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1973.
- Bà Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1996.
- Bà Chử Thị Mỹ H1, sinh năm 1998.
- Bà Phan Thị Thu P, sinh năm 1999.
- Bà Đỗ Minh N1, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Thửa đất 244, tờ bản đồ 15, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị H – Chức vụ Giám đốc.
Địa chỉ: Tổ G, thị trấn Q, huyện M, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Số nhà B phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Có mặt: Bà H.
Vắng mặt: Bà C, ông S, bà N, bà H1, bà P, bà N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 14/11/2023; đơn khởi kiện bổ sung ngày 25/12/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Công ty L (nay là Công ty L) do bà Vũ Thị H đại diện theo pháp luật trình bày:
1/ Về Hợp đồng dịch vụ pháp lý: Ngày 25/5/2021, bà C có đơn đề nghị Công ty L (nay là Công ty L) bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà C; về việc bà C khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 442691 cấp ngày 22/12/2003 đứng tên hộ ông Nguyễn Đức N2 và phân chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Đức N2 để lại theo qui định của pháp luật. Di sản chia thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 218, tờ bản đồ số 45, diện tích 463,6m², địa chỉ thửa đất: Tổ G, thị trấn Q, huyện M, thành phố Hà Nội.
Ngày 25/05/2021, Công ty L và bà Nguyễn Thị C ký kết Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 47/CTL ngày 25/05/2021 có nội dung: “Điều 4: Phí và các chi phí khác: Bên A có nghĩa vụ nộp phí khác tại Công ty L sau khi đã thỏa thuận với bên B, gồm:...Tổng số tiền của hợp đồng là 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng); đã nộp 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng)”.
Sau khi ký kết Hợp đồng dịch vụ pháp lý với bà C, Công ty L đã triển khai công việc theo nội dung đơn yêu cầu ngày 25/05/2021 của bà C như: Tư vấn pháp luật; Làm đơn khởi kiện vụ án hành chính; thu thập tài liệu chứng cứ và nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 442691 cấp ngày 22/12/2003 đứng tên hộ ông Nguyễn Đức N2 và phân chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Đức N2 để lại theo qui định của pháp luật.
Ngày 04/11/2021, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có thông báo trả lại đơn khởi kiện số 62/TB-TA cho bà C với lý do: Yêu cầu của bà C là quan hệ dân sự nên bà C có thể khởi kiện tranh chấp chia di sản thừa kế theo qui định của pháp luật; nội dung yêu cầu của bà C không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Ngày 20/12/2021, bà C và Công ty L lập văn bản Giấy ủy quyền có nội dung: “Bên được ủy quyền có quyền ra quyết định cử Luật sư, chuyên viên của mình để thực hiện công việc tham gia tố tụng tại TAND các cấp có thẩm quyền để giải quyết vụ án cho bên A; bên A sẽ lập văn bản ủy quyền tại văn phòng công chứng để ủy quyền cho chuyên viên của Công ty L đại diện tham gia tố tụng theo sự phân công chỉ định chuyên viên của Công ty luật. Bên B được toàn quyền quyết định tất cả các vấn đề trong quá trình tham gia tố tụng để giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân các cấp có thẩm quyền”.
Công ty L tiếp tục công việc như: Tư vấn pháp luật; Làm đơn khởi kiện vụ án dân sự về chia thừa kế tài sản; thu thập tài liệu chúng cứ và nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Mê Linh; Tòa án nhân dân huyện Mê Linh đã thụ lý vụ án số 79/TB-TLVA ngày 05/12/2022. Trong quá trình Tòa án nhân dân huyện Mê Linh giải quyết do các bên đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án nên bà C rút đơn khởi kiện; Tòa án nhân dân huyện Mê Linh đình chỉ giải quyết vụ án.
Công ty L đã nhiều lần thông báo yêu cầu bà C thực hiện nghĩa vụ nộp tiền dịch vụ pháp lý còn lại là 35.000.000 đồng; nhưng đến nay bà C vẫn chưa nộp. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty L theo quy định của pháp luật. Công ty L làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị C trả số tiền là: 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng chẵn) theo hợp đồng dịch vụ pháp lý số 47/CTL ngày 25/05/2021.
2/ Về hợp đồng ủy quyền và biên bản thỏa thuận và cam kết:
* Về hợp đồng ủy quyền: Sau khi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có thông báo trả lại đơn khởi kiện số 62/TB-TA ngày 04/11/2021 cho bà C với lý do Yêu cầu của bà C là quan hệ dân sự nên bà C có thể khởi kiện tranh chấp chia di sản thừa kế theo qui định của pháp luật; nội dung yêu cầu của bà C không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Ngày 20/12/2021, bà C và Công ty L lập văn bản Giấy ủy quyền có nội dung: “Bên được ủy quyền có quyền ra quyết định cử Luật sư, chuyên viên của mình để thực hiện công việc tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp có thẩm quyền để giải quyết vụ án cho bên A; bên A sẽ lập văn bản ủy quyền tại văn phòng công chứng để ủy quyền cho chuyên viên của Công ty L đại diện tham gia tố tụng theo sự phân công chỉ định chuyên viên của Công ty luật. Bên B được toàn quyền quyết định tất cả các vấn đề trong quá trình tham gia tố tụng để giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân các cấp có thẩm quyền”.
Ngày 15/01/2022, Công ty L có quyết định phân công tham gia tố tụng số 06/2022/QĐ-CTL; phân công ông Nguyễn Việt S, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Chử Thị Mỹ H1, bà Phan Thị Thu P, bà Đỗ Minh N1 tham gia tố tụng để giải quyết vụ án chia di sản thừa kế theo đơn yêu cầu của bà C.
Ngày 19 tháng 01 năm 2022, bà C và ông Nguyễn Việt S, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Chử Thị Mỹ H1, bà Phan Thị Thu P, bà Đỗ Minh N1 thỏa thuận ký Giấy ủy quyền có nội dung: Bà Nguyễn Thị C ủy quyền cho ông Nguyễn Việt S, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Chử Thị Mỹ H1, bà Phan Thị Thu P, bà Đỗ Minh N1 đều là chuyên viên làm việc tại Công ty L thực hiện việc tham gia tố tụng thay cho bà Nguyễn Thị C tại Tòa án nhân dân các cấp.
* Về biên bản thoả thuận và cam kết: Cùng ngày 19/01/2022, bà Vũ Thị H – Giám đốc Công ty L và bà Nguyễn Thị C ký Biên bản thoả thuận và cam kết có nội dung: “Trong quá trình Công ty L và các ông Nguyễn Việt S, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Chử Thị Mỹ H1, bà Phan Thị Thu P, bà Đỗ Minh N1 đang giải quyết các công việc tại Tòa án nhân dân các cấp có thẩm quyền thì bà Nguyễn Thị C không được hủy ngang; Không được tự ý rút ủy quyền. Nếu bà C có thay đổi hoặc muốn rút việc ủy quyền thì phải được sự đồng ý của Công ty L.
Công ty L và các ông bà nêu tên ở trên có trách nhiệm thực hiện cho tới khi thực hiện xong công việc theo hợp đồng và theo ủy quyền bà Nguyễn Thị C đã ký, kể cả giai đoạn thi hành án (nếu có).
Nếu bà Nguyễn Thị C đơn phương chấm dứt ủy quyền mà không được sự đồng ý của Công ty L thì bà C chịu phạt số tiền là 100.000.000đ ( Một trăm triệu đồng chẵn) cho Công ty L.
Công ty L và và các ông Nguyễn Việt S, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Chử Thị Mỹ H1, bà Phan Thị Thu P, bà Đỗ Minh N1 vẫn đang thực hiện công việc theo nội dung hợp đồng dịch vụ pháp lý và giấy ủy quyền”.
Ngày 02/5/2023, Công ty L và ông Nguyễn Việt S, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Chử Thị Mỹ H1, bà Phan Thị Thu P, bà Đỗ Minh N1 nhận được thông báo số 01/2023/TB - TA của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh đề ngày 26/4/2023; thông báo cho Công ty L và ông Nguyễn Việt S, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Chử Thị Mỹ H1, bà Phan Thị Thu P, bà Đỗ Minh N1 biết về việc: Chấm dứt ủy quyền. Thông báo có nội dung như sau: “...+ Tại buổi làm việc bà C có quan điểm tự nguyện chấm dứt ủy quyền với các ông bà có tên nêu trên để tự mình tham gia tố tụng tại tòa án, việc bà C chấm dứt là hoàn toàn tự nguyện. Vậy, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội thông báo các ông bà có tên nêu trên được biết để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật…”. Đồng thời, Công ty L nhận được ý kiến của gia đình bà C về việc gia đình bà C đã tự thỏa thuận được với nhau về nội dung vụ án và đã nhận tiền từ phía bị đơn; bị đơn đã trả cho bà C tại Tòa án nhân dân huyện Mê Linh; do vậy, bà C đã rút đơn khởi kiện.
Sau khi nhận được thông báo của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh và thông tin từ gia đình bà C; Công ty L đã yêu cầu bà C nêu ý kiến quan điểm của bà C bằng văn bản và gửi cho Công ty L để Công ty L xem xét và giải quyết. Nhưng Công ty L không nhận được ý kiến phản hồi từ bà Nguyễn Thị Củng
Căn cứ vào Biên bản thoả thuận và cam kết ngày 19/01/2022: “Nếu bà Nguyễn Thị C đơn phương chấm dứt ủy quyền mà không được sự đồng ý của Công ty L thì bà C chịu phạt số tiền là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng chẵn) cho Công ty L”.
Như vậy, bà Nguyễn Thị C đã vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận tại Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 47/CTL ngày 25/05/2021 và vi phạm Biên bản thỏa thuận và cam kết ngày 19/01/2022 với Công ty L. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty L (nay là Công ty L) theo quy định của pháp luật. Công ty L làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị C trả số tiền là: 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng chẵn) theo hợp đồng dịch vụ pháp lý số 47/CTL ngày 25/05/2021 và số tiền phạt là 100.000.000đ ( Một trăm triệu đồng) theo Biên bản thoả thuận và cam kết giữa Công ty L với bà Nguyễn Thị Củng . Tổng số tiền bà Nguyễn Thị C phải trả cho Công ty L số tiền là: 135.000.000đ (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng chẵn). Công ty L không yêu cầu tính lãi. Về án phí giải quyết theo pháp luật. Ngoài ra Công ty L không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/3/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị C trình bày:
- Về Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 47/CTL ngày 25/05/2021, có nội dung như thế nào bà C không nhớ; Hợp đồng dịch vụ pháp lý do Công ty L làm; sau khi làm thì yêu cầu bà C ký thì bà C ký. Khi làm xong Hợp đồng dịch vụ pháp lý bà C đã nộp 20.000.000 đồng; tiền nộp do các con bà C giao cho Công ty L.
- Biên bản thỏa thuận và cam kết ngày 19/01/2022, có nội dung như thế nào bà C không nhớ; Biên bản thỏa thuận và cam kết do Công ty L làm; sau khi làm thì yêu cầu bà C ký thì bà C ký.
Ngoài ra bà C không nhớ gì khác. Nay Công ty L khởi kiện yêu cầu bà C trả tiền, bà C không nhất trí. Vì hiện nay bà C tuổi cao, sức khỏe yếu, không làm được gì ra tiền; hiện nay bà C sống nhờ vào tiền tuất của con do nhà nước cấp. Ngoài ra, bà C không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
* Tại đơn đề nghị đề ngày 22/3/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu N, bà Chử Thị Mỹ H1, bà Phan Thị Thu P, bà Đỗ Minh N1 trình bày: Ngày 15/01/2022, chúng tôi được Công ty L ban hành quyết định số 06/2022/QĐ-CTL, về việc: Phân công tham gia tố tụng để giải quyết vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế”, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị C; đồng thời chúng tôi là người được bà Nguyễn Thị C ủy quyền cho chúng tôi tham gia tố tụng để giải quyết vụ án. Chúng tôi đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình với Công ty L và bà Nguyễn Thị Củng . Do bà Nguyễn Thị C vi phạm nghĩa vụ thanh toán và vi phạm cam kết đã ký với Công ty L. Nay Công ty L làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị C trả số tiền là: 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng chẵn) theo hợp đồng dịch vụ pháp lý số 47/CTL ngày 25/05/2021 và số tiền phạt là 100.000.000đ ( Một trăm triệu đồng) theo Biên bản thoả thuận và cam kết giữa Công ty L với và Nguyễn Thị Củng . Tổng số tiền bà Nguyễn Thị C phải trả cho Công ty L số tiền là: 135.000.000đ (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng chẵn). Hiện nay Tòa án huyện M đã thụ lý vụ án để giải quyết theo thẩm quyền. Chúng tôi đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo qui định của pháp luật, đồng thời chúng tôi xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; xét xử vụ án; chúng tôi không có khiếu nại hay thắc mắc gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án chấp hành theo đúng qui định của pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của người tham gia tố tụng dân sự là nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án cơ bản chấp hành theo đúng qui định của pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của người tham gia tố tụng dân sự là bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không chấp hành theo đúng qui định của pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của người tham gia tố tụng dân sự là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án chưa chấp hành theo đúng qui định của pháp luật.
Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ và lời khai các đương sự tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Điều 147, 228, 271, 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng Điều 513, 515, 518, 519, 562, 563, 565, 566, 567, 568, 569 Bộ Luật dân sự năm 2015.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty L.
Buộc bà Nguyễn Thị C trả Công ty L số tiền 135.000.000 đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 25/5/2021, bà Nguyễn Thị C và Công ty L ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 47/CTL; Ngày 19/01/2022, bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Việt S, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Chử Thị Mỹ H1, bà Phan Thị Thu P, bà Đỗ Minh N1 ký Giấy ủy quyền công chứng số 467/CTL. Ngày 02/5/2023, Công ty L và ông Nguyễn Việt S, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Chử Thị Mỹ H1, bà Phan Thị Thu P, bà Đỗ Minh N1 nhận được thông báo số 01/2023/TB - TA ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh; thông báo về việc: Chấm dứt ủy quyền; Ngày 24/5/2023, T án nhân dân huyện M Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 30/2023/QĐST-DS ngày 14/11/2023, Công ty L có đơn khởi kiện gửi Tòa án.
Theo qui định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”. Vì vậy, thời hiệu khởi kiện của Công ty L vẫn còn.
[2] Về quan hệ pháp luật: Vụ án thụ lý có quan hệ pháp luật về Tranh chấp Hợp đồng dân sự (Đòi tiền hợp đồng dịch vụ pháp lý và tiền phạt hợp đồng), theo qui định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về thẩm quyền: Đối với yêu cầu Tranh chấp Hợp đồng dân sự (Đòi tiền hợp đồng dịch vụ pháp lý và tiền phạt hợp đồng), theo qui định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.
[4] Về thủ tục: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án giao thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập đến Tòa án làm việc và giao thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; giao quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng qui định của pháp luật tố tụng dân sự; tại phiên tòa bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt (có đơn, lời khai xin vắng mặt). Vì vậy, Toà án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[5] Về nội dung:
[5.1] Về Hợp đồng dịch vụ pháp lý: Căn cứ vào các lời khai của các đương sự; tài liệu chứng cứ điều tra xác minh thu thập được. Nhận thấy:
- Ngày 25/5/2021; bà C có đơn đề nghị Công ty L (nay là Công ty L) bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà C về việc bà C khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 442691 cấp ngày 22/12/2003 đứng tên hộ ông Nguyễn Đức N2 và phân chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Đức N2 để lại theo qui định của pháp luật.
- Ngày 25/05/2021, Công ty L và bà Nguyễn Thị C ký kết Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 47/CTL ngày 25/05/2021 với nội dung: “Điều 4: Phí và các chi phí khác: Bên A có nghĩa vụ nộp phí khác tại Công ty L sau khi đã thỏa thuận với bên B, gồm:...Tổng số tiền của hợp đồng là 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng); đã nộp 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Công ty L đã tư vấn pháp luật; làm đơn khởi kiện vụ án hành chính; thu thập tài liệu chứng cứ và nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính cùng các tài liệu chúng cứ của bà C tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Ngày 04/11/2021, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có thông báo trả lại đơn khởi kiện số 62/TB-TA cho bà C với lý do Yêu cầu của bà C là quan hệ dân sự nên bà C có thể khởi kiện tranh chấp chia di sản thừa kế theo qui định của pháp luật; nội dung yêu cầu của bà C không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Công ty L tiếp tục tư vấn pháp luật; làm đơn khởi kiện vụ án dân sự về chia thừa kế tài sản; thu thập tài liệu chứng cứ và nộp đơn khởi kiện vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Mê Linh; Tòa án nhân dân huyện Mê Linh đã thụ lý vụ án, số 79/TB-TLVA ngày 05/12/2022. Trong quá trình Tòa án nhân dân huyện Mê Linh giải quyết vụ án do các bên đương sự hòa giải thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án nên bà C rút đơn khởi kiện; Tòa án nhân dân huyện Mê Linh Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 30/2023/QĐST-DS ngày 14/11/2023.
Nhưng đến nay bà Nguyễn Thị C vẫn chưa nộp số tiền còn lại 35.000.000đ là tiền phí và các chi phí khác theo thỏa thuận trong Hợp đồng dịch vụ pháp lý cho Công ty L. Vì vậy, có căn cứ buộc bà Nguyễn Thị C trả số tiền là: 35.000.000 đồng cho Công ty L theo thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý số 47/CTL ngày 25/05/2021 là phù hợp.
[5.2] Về hợp đồng ủy quyền và biên bản thỏa thuận và cam kết:
* Về hợp đồng ủy quyền. Căn cứ vào các lời khai của đương sự; tài liệu chứng cứ điều tra xác minh thu thập được. Nhận thấy:
- Ngày 20/12/2021, bà C và Công ty L lập văn bản Giấy ủy quyền có nội dung: “Bên được ủy quyền có quyền ra quyết định cử Luật sư, chuyên viên của mình để thực hiện công việc tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp có thẩm quyền để giải quyết vụ án cho bên A; bên A sẽ lập văn bản ủy quyền tại văn phòng công chứng để ủy quyền cho chuyên viên của Công ty L đại diện tham gia tố tụng theo sự phân công chỉ định chuyên viên của Công ty luật. Bên B được toàn quyền quyết định tất cả các vấn đề trong quá trình tham gia tố tụng để giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân các cấp có thẩm quyền”.
- Ngày 15/01/2022, Công ty L có quyết định phân công tham gia tố tụng số 06/2022/QĐ-CTL phân công ông Nguyễn Việt S, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Chử Thị Mỹ H1, bà Phan Thị Thu P, bà Đỗ Minh N1 tham gia tố tụng để giải quyết vụ án chia di sản thừa kế theo đơn yêu cầu của bà C.
- Ngày 19 tháng 01 năm 2022, bà C và ông Nguyễn Việt S, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Chử Thị Mỹ H1, bà Phan Thị Thu P, bà Đỗ Minh N1 thỏa thuận ký Giấy ủy quyền có nội dung: Bà Nguyễn Thị C ủy quyền cho ông Nguyễn Việt S, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Chử Thị Mỹ H1, bà Phan Thị Thu P, bà Đỗ Minh N1 đều là chuyên viên làm việc tại Công ty L thực hiện việc tham gia tố tụng thay cho bà Nguyễn Thị C tại Tòa án nhân dân các cấp. Cùng ngày 19/01/2022, bà Vũ Thị H – Giám đốc Công ty L và bà Nguyễn Thị C ký Biên bản thoả thuận và cam kết có nội dung: “Trong quá trình Công ty L và các ông Nguyễn Việt S, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Chử Thị Mỹ H1, bà Phan Thị Thu P, bà Đỗ Minh N1 đang giải quyết các công việc tại Tòa án nhân dân các cấp có thẩm quyền thì bà Nguyễn Thị C không được hủy ngang; Không được tự ý rút ủy quyền. Nếu bà C có thay đổi hoặc muốn rút việc ủy quyền thì phải được sự đồng ý của Công ty L. Công ty L và các ông bà nêu tên ở trên có trách nhiệm thực hiện cho tới khi thực hiện xong công việc theo hợp đồng và theo ủy quyền bà Nguyễn Thị C đã ký, kể cả giai đoạn thi hành án (nếu có). Nếu bà Nguyễn Thị C đơn phương chấm dứt ủy quyền mà không được sự đồng ý của Công ty L thì bà C chịu phạt số tiền là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng chẵn) cho Công ty L”.
- Ngày 02/5/2023, Công ty L và ông Nguyễn Việt S, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Chử Thị Mỹ H1, bà Phan Thị Thu P, bà Đỗ Minh N1 nhận được thông báo số 01/2023/TB - TA của TAND huyện Mê Linh đề ngày 26/4/2023; thông báo cho Công ty L và ông Nguyễn Việt S, bà Nguyễn Thị Thu N, bà Chử Thị Mỹ H1, bà Phan Thị Thu P, bà Đỗ Minh N1 biết về việc: Chấm dứt ủy quyền. Thông báo có nội dung như sau: “...+ Tại buổi làm việc bà C có quan điểm tự nguyện chấm dứt ủy quyền với các ông bà có tên nêu trên để tự mình tham gia tố tụng tại tòa án, việc bà C chấm dứt là hoàn toàn tự nguyện. Vậy, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội thông báo các ông bà có tên nêu trên được biết để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật...".
Như vậy việc bà C đơn phương chấm dứt ủy quyền là vi phạm Biên bản thoả thuận và cam kết nên bà C phải chịu tiền phạt theo nội dung Biên bản thoả thuận và cam kết.
Từ những phân tích nhận định trên buộc bà C trả Công ty L tổng số tiền là 135.000.000 đồng, trong đó: Tiền hợp đồng dịch vụ pháp lý 35.000.000 đồng; tiền phạt theo Biên bản thoả thuận và cam kết là 100.000.000 đồng.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị C phải chịu để sung công quỹ nhà nước, nhưng bà C là “người cao tuổi”, nên được miễn nộp tiền án phí sơ thẩm theo qui định Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Công ty L không phải chịu án phí nên được trả lại tiền tạm ứng án phí.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng Điều 513; Điều 515; Điều 516; Điều 517; Điều 518; Điều 519 Bộ Luật Dân sự năm 2015.
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 203, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự.
- Áp dụng Điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm b khoản 1 Điều 24; 9 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Kèm theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty L (Công ty L).
- Buộc bà Nguyễn Thị C trả Công ty L tổng số tiền là 135.000.000 (Một trăm ba mươi lăm triệu) đồng, trong đó: 35.000.000 đồng tiền Hợp đồng dịch vụ pháp lý; 100.000.000 đồng tiền phạt đơn phương chấm dứt ủy quyền theo Biên bản thoả thuận và cam kết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị Củng .
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo qui định tại khoản 2 Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; 7; 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt án vắng mặt.
- Công ty L không phải chịu án phí nên được trả lại 3.375.000 (Ba triệu, ba trăm bẩy mươi lăm nghìn) đồng, tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008417 ngày 23/01/2024 của Chi cục Thi hành án huyện Mê Linh.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Huy Duệ |
Bản án số 45/2024/DSST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý và tiền phạt hợp đồng.
- Số bản án: 45/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý và tiền phạt hợp đồng.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
