Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK MIL

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HSST.

Ngày 11/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc Linh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thanh và ông Nguyễn Đình Tân.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Đức - Kiểm sát viên

Ngày 11/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 19/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 29/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Văn L, sinh năm 1987 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Đoàn T, sinh năm 1939, trú tại huyện T, tỉnh Bình Định và bà Trần Thị M, sinh năm 1967, trú tại tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; vợ Phan Thị Kim H, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk và 02 người con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn được áp dụng: bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và T1 hoãn xuất cảnh từ ngày 03/5/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn S; sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (Đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Hoàng Thị M1, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Công ty TNHH H1; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng S1, sinh năm 1970; địa chỉ: A T, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Sỹ N, sinh năm 1988, trú tại thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 04/03/2024, Đoàn Văn L có giấy phép lái xe hạng C điều khiển xe ô tô BKS 47H - 014.00 của Công ty TNHH H1, chở 24.660kg cây cao su cho ông Nguyễn Sỹ N đi từ xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk đến xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đến Km số 1828 + 500m, đường H (Quốc lộ A) thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, do không đảm bảo khoảng cách an toàn với xe máy kéo không BKS do ông Nguyễn Văn S điều khiển đang đi cùng chiều phía trước nên Đoàn Văn L đã để xe ô tô BKS 47H - 014.00 tông vào thùng của xe máy kéo làm xe máy kéo lật ngược và đè lên người ông Nguyễn Văn S, hậu quả ông Nguyễn Văn S chết, hai phương tiện bị hư hỏng.

- Vật chứng đã thu giữ: 01 xe ô tô BKS 47H - 014.00; 01 xe máy kéo không BKS; 01 giấy chứng nhận kiểm định số: BB 0051215; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số: 23BB230345464; 01 giấy biên nhận thế chấp ngày 02/01/2024; 01 giấy phép lái xe hạng C số: [...] mang tên Đoàn Văn L.

- Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là Km số 1828 + 500m, đường H (Quốc lộ A) thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Theo chiều hướng từ huyện C đi huyện Đ, đây là đoạn đường hơi cong sang trái, hướng lên dốc, được trải nhựa rộng 11m, chính giữa đường có vạch sơn liền, màu vàng phân chia mặt đường thành hai chiều đường riêng biệt. Trên mỗi chiều đường có vạch sơn nét liền màu trắng phân chia thành làn đường dành cho xe cơ giới và xe thô sơ (có chiều rộng là 1,9m), hai bên đường là khu vực dân cư sinh sống. Lấy chiều đường từ huyện C đi huyện Đ làm chiều khám nghiệm, mép đường phải chiều khám nghiệm làm mép đường chuẩn, trụ điện T108/13 làm mốc cố định. Trên hiện trường phát hiện phương tiện, dấu vết cụ thể như sau:

+ Một vết chà trượt kích thước 23,6m x 0,7m nằm trên phần đường phải theo hướng huyện C đi huyện Đ. Điểm đầu cách mép đường phải 2,85m, cách điểm mốc là 20,7m; điểm cuối ngay dưới lốp trước bên phải xe ô tô BKS 47H - 014.00 cách mép đường phải 2,6m, cách điểm mốc 18,1m. Đây là vết chà trượt do hàng lốp bên phải xe ô tô BKS 47H - 014.00 chà với mặt đường tạo nên, được đánh dấu số (1) trên sơ đồ hiện trường.

+ Xe ô tô BKS 47H - 014.00 nằm trên phần đường phải, đầu xe hướng về huyện Đ, đuôi xe hướng về huyện C. Trục trước trái cách mép đường phải 4,6m, trục trước phải cách mép đường phải 2,4m, cách trụ điện 18m. Trục sau trái cách mép đường phải 05m, trục sau phải cách mép đường phải 2,6m, cách trụ điện 15m.

+ Một vết cày trượt kích thước 4,45m x 0,4m nằm trên lề đường phải theo hướng huyện C đi huyện Đ. Điểm đầu nằm ngay trên mép đường phải, cách điểm mốc 11,9m; điểm cuối cách mép đường phải 0,4m, cách điểm mốc 13,4m. Đây là dấu vết cày trượt do hàng lốp bên phải xe máy kéo cày trượt trên lề đường và mương thoát nước bằng bê tông tạo nên được đánh dấu (VC) trên sơ đồ hiện trường.

+ Một vết chà trượt kích thước 8,4m x 01m trên phần lề đường phải bằng bê tông (phía trong mép đường chuẩn). Điểm đầu cách mép đường phải 1,4m, cách điểm mốc 11,7m; điểm cuối cách mép đường 0,3m, cách điểm mốc 17,15m. Đây là vết chà trượt do hai hàng lốp sau xe máy kéo chà trượt trên phần lề đường bê tông tạo nên, được đánh dấu số (2) trên sơ đồ hiện trường.

+ Một vết cày đứt quãng kích thước 1,7m x 0,3m trên phần lề đường phải bằng đất (phía trong mép đường chuẩn). Điểm đầu cách mép đường phải 0,7m, cách điểm mốc 18,5m; điểm cuối cách mép đường phải 0,45m, cách điểm mốc 19,7m. Đây là vết cày do mặt ngoài bên phải thùng xe máy kéo cày với lề đường đất tạo nên, được đánh dấu số (3) trên sơ đồ hiện trường.

+ Xe máy kéo không mang BKS nằm lật ngửa trên phần đường phải, đầu xe hướng ra giữa đường, đuôi xe nằm trong lề đường bằng đất. Trục trước phải cách mép đường phải 0,6m, cách trụ điện 20,2m; trục trước trái cách mép đường phải 1,6m, cách điểm mốc 21,4m; trục sau phải cách mép đường 2,9m, cách điểm mốc 19,1m; trục sau trái cách mép đường phải 2,8m, cách điểm mốc 20,9m.

+ Vùng mảnh vỡ kích thước 30m x 04m, tâm vùng mảnh vỡ cách mép đường phải 1,5m, cách điểm mốc 14m. Đây là vùng mảnh vỡ do va chạm giữa xe ô tô BKS 47H - 014.00 và xe máy kéo tạo nên, ký hiệu (VMV) trong sơ đồ hiện trường.

- Căn cứ các dấu vết để lại trên hiện trường, phương tiện, xác định: Điểm va chạm đầu tiên giữa xe ô tô BKS 47H - 014.00 với xe máy kéo tương ứng trên mặt đường là tại vị trí cách mép đường phải 2,8m, cách điểm mốc 21,3m, cách trục trước xe ô tô tải là 21,5m, cách trục sau xe ô tô tải 17,3m, cách trục trước phải xe máy kéo là 30m, cách trục sau bên phải là 31,6m, cách đầu dấu vết số (1) là 0,8m, được ký hiệu (X) trong sơ đồ hiện trường.

* Kết quả khám phương tiện:

- Xe ô tô BKS 47H - 014.00 có các dấu vết sau: Phần bên phải kính lái bể vỡ trong vùng kích thước 83cm x 175cm; ốp gạt mưa bị bể vỡ trong vùng kích thước 35cm x 10cm; nắp Capo bị móp méo biến dạng từ trước ra sau trong vùng kích thước 190cm x 57cm; mặt G bị gãy vỡ, bung rời khỏi vị trí ban đầu trong vùng kích thước 65cm x 27cm; ốp trụ trước bên phải bị gãy vỡ, bung rời khỏi vị trí ban đầu trong vùng kích thước 26cm x 58cm; cản trước bị móp méo, biến dạng từ trước ra sau trong kích thước 90cm x 45cm; mặt trên bên phải bám dính tạp chất màu xanh trong vùng kích thước 27cm x 07cm; đèn cản bên phải bị bể vỡ, hư hỏng hoàn toàn trong kích thước 40cm x 15cm; trụ trước Cabin bên phải bị móp méo, biến dạng từ trước ra sau di lệch khỏi vị trí ban đầu trong vùng kích thước 58cm x 18cm; két dàn lạnh bị móp méo, biến dạng từ trước ra sau trong vùng kích thước 35cm x 28cm; đèn xi nhan phải bị bể vỡ hoàn toàn trong vùng kích thước 30cm x 32cm; cửa bên phải cong vênh, biến dạng xô lệch khỏi vị trí ban đầu trong vùng kích thước 106cm x 170cm, kính cửa bên phải bị bể vỡ hoàn toàn; đèn xi nhan cửa bên phải bị bể vỡ trong kích thước 15cm x 09cm; hông phải ngay sau ca bin bị móp méo biến dạng trong kích thước 48cm x 50cm; ốp cua lốp phải cong vênh, bể vỡ trong kích thước 110cm x 40cm; táp bị cửa bên phải cong vênh, bể vỡ trong kích thước 70cm x 75cm; nẹp kính cửa bị cong vênh trong kích thước 75cm x 05cm; ốp bậc lên xuống bên phải bị cong gãy trong kích thước 70cm x 14cm; ốp cửa bên phải bị bể vỡ, đèn xi nhan trên ốp cửa bên phải bị bể vỡ trong kích thước 100cm x 13cm; thanh trụ cửa bên phải bị móp méo, cong vênh trong kích thước 15cm x 10cm; kính lưng cabin bị bể vỡ hoàn toàn; bầu gió bị trầy xước trong kích thước 20cm x 14cm; khu vực ốp chắn bùn trước bị cong vênh, bể vỡ trong vùng kích thước 40cm x 40cm; két lạnh trước xe bị móp méo, biến dạng trong vùng kích thước 20cm x 35cm.

- Xe máy kéo không BKS có các dấu vết sau: Tấm cản kim loại phía trước đầu xe bị nứt vỡ trong khu vực kích thước 13cm x 08cm, tâm vết nứt, vỡ cách mép bên trái tấm cản 10cm, cách mặt đường 90cm; góc phía trước, bên phải bình dầu có vết chà trượt, mài mòn làm lộ ánh kim loại trong khu vực kích thước 05cm x 10cm từ trước ra sau. Mặt bên phải thùng dầu bị cong vênh, biến dạng, lệch khỏi vị trí ban đầu 02cm, làm rò rỉ nhiên liệu bên trong, kích thước vùng cong vênh, biến dạng 25cm x 14cm; toàn bộ mặt bánh lốp phía trước, bên phải tại vị trí tiếp xúc với mặt đường có vết chà trượt, mài mòn, bám dính hạt vụn bê tông màu trắng từ phải qua trái; tại vị trí cần số, nồi côn hệ thống máy bị rò rỉ, bám dính chất dịch màu đen nghi là nhớt, kích thước vùng bám dính 30cm x 25cm; toàn bộ mặt bánh lốp của hai bánh xe phía sau, bên phải tại vị trí tiếp xúc với mặt đường có rải rác nhiều vết chà trượt, mài mòn bám dính vụn bê tông màu trắng, chiều hướng tác động từ sau ra trước; mặt ngoài, bên phải, phía trước thùng xe máy kéo có vết chà trượt, bám dính bùn đất trong khu vực kích thước 70cm x 12cm, chiều hướng tác động từ phải qua trái; mặt ngoài, bên phải, phía sau thùng xe máy kéo có vết chà trượt, mài mòn trong khu vực kích thước 52cm x 14cm; mặt ngoài, bên trái, phía sau thùng xe máy kéo bị cong vênh, biến dạng trong khu vực kích thước 53cm x 16cm, lệch khỏi vị trí ban đầu 4cm.

* Tại Kết luận giám định tử thi số: 38/KLGĐTT-TTPY, ngày 21/03/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đ kết luận: Ông Nguyễn Văn S bị xuất huyết dưới nhện toàn bộ hai bán cầu đại não, trong tổ chức não có khoảng 300ml máu không đông. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.

* Tại Kết luận định giá tài sản số: 24/KL-HĐĐGTS, ngày 19/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Xe máy kéo không BKS bị thiệt hại 2.320.000 đồng.

* Kết quả cân tải trọng xe: Tại thời điểm kiểm tra, xe ô tô BKS 47H - 014.00 có khối lượng toàn bộ xe là: 33.660/24.000kg, vượt quá khối lượng hàng hóa chuyên chở cho phép tham gia giao thông là: 64.40% (9.660kg/15.000kg).

Bản Cáo trạng số 47/CT-VKS (ĐM) ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố bị cáo Đoàn Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan.

Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của người bị hại (ông Nguyễn Văn S) là bà Hoàng Thị M1 không yêu cầu bị cáo và Công ty TNHH H2 thêm, bà M1 bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đoàn Văn L như bản Cáo trạng số 47/CT-VKS (ĐM) ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Đoàn Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn L từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (Ba) năm đến 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

  • + Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ trả lại 01 xe ô tô BKS 47H - 014.00; 01 xe máy kéo không BKS; 01 giấy chứng nhận kiểm định số: BB 0051215; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số: 23BB230345464; 01 giấy biên nhận thế chấp ngày 02/01/2024 cho chủ sở hữu hợp pháp.
  • + Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng C số: [...] mang tên Đoàn Văn L cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền 30.000.000 đồng và Công ty TNHH H1 đã bồi thường số tiền 220.000.000 đồng cho người đại diện hợp pháp của bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo và Công ty TNHH H2 thêm nên không đề nghị giải quyết.

Đối với thiệt hại của xe ô tô BKS 47H - 014.00, Công ty TNHH H1 không yêu cầu bị cáo Đoàn Văn L phải bồi thường nên không đề nghị giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo không bào chữa, tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để bị cáo có cơ hội ở nhà chăm sóc bố mẹ thường xuyên ốm đau và con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH H1; người có quyền lợi liên quan: Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo, vì người có quyền lợi liên quan đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án, nên cần thiết Hội đồng xét xử sẽ quyết định công bố lời khai có trong hồ sơ vụ án và xét xử vắng mặt theo Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Xét về hành vi của bị cáo Đoàn Văn L đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, cụ thể: Vào khoảng 20 giờ ngày 04/03/2024, Đoàn Văn L có giấy phép lái xe hạng C điều khiển xe ô tô BKS 47H - 014.00 của Công ty TNHH H1, chở 24.660kg cây cao su cho ông Nguyễn Sỹ N đi từ xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk đến xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đến Km số 1828 + 500m, đường H (Quốc lộ A) thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, do không đảm bảo khoảng cách an toàn với xe máy kéo không BKS do ông Nguyễn Văn S điều khiển đang đi cùng chiều phía trước nên Đoàn Văn L đã để xe ô tô BKS 47H - 014.00 tông vào thùng của xe máy kéo làm xe máy kéo lật ngược và đè lên người ông Nguyễn Văn S, hậu quả ông Nguyễn Văn S chết, xe máy kéo bị thiệt hại 2.320.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Đoàn Văn L đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a. Làm chết người.”

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo biết xe ô tô tải là nguồn nguy hiểm cao độ, bản thân bị cáo buộc phải biết vận chuyển hàng hóa phải đúng tải trọng cho phép nhưng vẫn điều khiển xe ô tô BKS 47H - 014.00 vận chuyển 24.660kg/15.000kg vượt quá trọng tải chuyên chở hàng hóa cho phép của xe là 64.40%, vi phạm vào Điều 28 Luật giao thông đường bộ; không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước, vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; Điều 5 Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT, ngày 29/8/2019 của Bộ G1, quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, nên đã để xe ô tô BKS 47H - 014.00 tông vào xe máy kéo không biển số do ông Nguyễn Văn S điều khiển đi cùng chiều phía trước làm ông S chết do chấn thương sọ não, xe máy kéo bị thiệt hại 2.320.000 đồng. Điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi của bị cáo đã thực hiện và cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS): Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

[6] Về các tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo cùng với chủ phương tiện bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại với số tiền 250.000.000 đồng, được gia đình người bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, toàn bộ thiệt hại đã được bị cáo và chủ phương tiện khắc phục, bồi thường cho gia đình bị hại, được gia đình bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó cần chấp nhận đề nghị của bị cáo và đại diện Viện kiểm sát, không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và đảm bảo trong đấu tranh phòng ngừa chung.

[7] Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Đối với Công ty TNHH H1 và ông Nguyễn Sỹ N, do không biết bị cáo chở quá tải nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[9] Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • + Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại: 01 xe ô tô BKS 47H - 014.00; 01 xe máy kéo không BKS; 01 giấy chứng nhận kiểm định số: BB 0051215; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số: 23BB230345464; 01 giấy biên nhận thế chấp ngày 02/01/2024 cho chủ sở hữu hợp pháp.
  • + Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Đoàn Văn L cho bị cáo.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 591 của Bộ luật dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo, Công ty TNHH H1 và người đại diện hợp pháp của bị hại về việc đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 250.000.000 đồng (Bị cáo bồi thường 30.000.000 đồng và Công ty TNHH H2 220.000.000 đồng). Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên HĐXX không xem xét.

Đối với thiệt hại của xe ô tô BKS 47H - 014.00, Công ty TNHH H1 không yêu cầu bị cáo Đoàn Văn L phải bồi thường nên HĐXX ghi nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đoàn Văn L 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đoàn Văn L cho Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp phạm tội mới thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 01 xe ô tô BKS 47H - 014.00; 01 xe máy kéo không BKS; 01 giấy chứng nhận kiểm định số BB: 0051215; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số: 23BB230345464; 01 giấy biên nhận thế chấp ngày 02/01/2024 cho chủ sở hữu hợp pháp.
  • + Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng C số: [...] mang tên Đoàn Văn L cho bị cáo là chủ sở hữu hợp pháp.

3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo, Công ty TNHH H1 và người đại diện hợp pháp của bị hại về việc đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 250.000.000 đồng (Bị cáo bồi thường 30.000.000 đồng và Công ty TNHH H2 220.000.000 đồng).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đoàn Văn L phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông.
  • - Phòng PV06; PC10 CA tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Đắk Mil;
  • - CA huyện Đắk Mil;
  • - Chi cục THADS huyện Đắk Mil;
  • - Bị cáo;
  • - Người đdhp của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

PHAN THỊ TRÚC LINH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HSST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 45/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Văn Linh vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger