Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI

Bản án số: 45/2025/HSST

Ngày 27-11-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Phú Vinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Khải; bà Nguyễn Thị Uyên

Thư ký phiên tòa: Ông Chu Ngọc Phú – Thư ký Toà án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai, mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐ-XX ngày 10 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Ngọc Ú, sinh năm 1989, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Thôn B, xã B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc E, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Mai Thị V, sinh năm 1956; bị cáo có vợ là bà Phạm Thị T, sinh năm 1991 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 8 năm 2025 đến ngày 07 tháng 8 năm 2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1994, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Thôn B, xã B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình D, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1953; bị cáo có vợ là bà Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1991 (đã ly hôn) và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 8 năm 2025 đến ngày 07 tháng 8 năm 2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Trương Anh P, sinh năm 1992, tại Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn B, xã B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Ngọc T1, sinh năm 1962 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1966; bị cáo có vợ là bà Ngô Thị Thúy N, sinh năm 1996 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 8 năm 2025 đến ngày 07 tháng 8 năm 2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  4. Họ và tên: Trịnh Đình T2, sinh năm 1984, tại Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn B, xã B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Đình T3, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966; bị cáo có vợ là bà Đinh Thị Vân A, sinh năm 1988 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 8 năm 2025 đến ngày 07 tháng 8 năm 2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  5. Họ và tên: Nguyễn Hữu T4, sinh năm 1989, tại Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn B, xã B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị Kim P1, sinh năm 1959; bị cáo có vợ là bà Ngô Thị Thúy L1, sinh năm 1994 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2025; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 12 tháng 8 năm 2020 thực hiện hành vi đánh bạc nên bị Công an xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước (nay là Công an xã B, tỉnh Đồng Nai) xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng (Quyết định số 02/QĐ-XPHC) đã chấp hành xong; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 8 năm 2025 đến ngày 07 tháng 8 năm 2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  6. Họ và tên: Nguyễn Hữu Đ1, sinh năm 1986, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Thôn B, xã B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu S1, sinh năm 1960 và bà Lê Thị T6, sinh năm 1961; bị cáo có vợ là bà Nguyễn Nữ Tú T7, sinh năm 1988 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 13 tháng 8 năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Đồng Nai) xử phạt 7.000.000 đồng về hành vi đánh bạc (Bản án số 85/2012/HSST) đã chấp hành xong; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 8 năm 2025 đến ngày 07 tháng 8 năm 2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  7. Họ và tên: Nguyễn Văn L2, sinh năm 2000, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Thôn B, xã B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T8, sinh năm 1966 và bà Bùi Thanh L3 (đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 8 năm 2025 đến ngày 07 tháng 8 năm 2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  8. Họ và tên: Nguyễn Chí M, sinh năm 1992, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Thôn B, xã B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn H1, sinh năm 1960 và bà Trần Thị H2, sinh năm 1956; bị cáo có vợ là bà Khuất Thị Thu N1, sinh năm 1994 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 8 năm 2025 đến ngày 07 tháng 8 năm 2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Khuất Thị Thu N1, sinh năm 1994; cư trú: Thôn B, xã B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
  2. Bà Nguyễn Nữ Tú T7, sinh năm 1989; cư trú: Thôn B, xã B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt không có lý do).

Người làm chứng: Bà Huỳnh Thị Bạch N2, sinh năm 1966; cư trú: Tổ E, khu phố E H, phường C, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt không có lý do).

Người chứng kiến: Ông Mai Văn A1, sinh năm 1982; cư trú: Thôn P, xã B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt không có lý do)..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 01 tháng 8 năm 2025, Trương Anh P, Trịnh Đình T2, Nguyễn Ngọc Ú, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Hữu Đ1, Nguyễn Hữu T4, Nguyễn Chí M và Nguyễn Tiến Đ sau khi nhậu cùng nhau tại quán bún riêu thì tất cả về nhà Đ chơi uống nước trà tại thôn B, xã B, tỉnh Đồng Nai. Ngồi chơi tại nhà Đ được khoảng 30 phút thì P, Đ, Ú, T2, M, Đ1, T4, L2 rủ nhau chơi xóc đĩa thắng thua bằng tiền thì tất cả đồng ý nên Đ đi lấy 01 con bài tây cắt thành 04 con vị, một cái bát, 01 cái đĩa bằng sành để bỏ vị vào lắc. Sau đó cả nhóm ngồi ngay khu vực phơi đồ của nhà Đ để đánh xóc đĩa thắng thua bằng tiền, mỗi lần xóc người tham gia sẽ đặt số tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng, trong đó Ú và Phi thay nhau làm cái.

Hình thức đánh “xóc đĩa” như sau: Tính chẵn, lẻ, cái bỏ 04 con vị cắt từ lá bài tây 52 lá vào chiếc đĩa úp chiếc chén lên và tiến hành xóc. Cách tính chẵn, lẻ: cái sau khi mở chén trên đĩa có 01 mặt đen và 03 mặt đỏ hoặc 01 mặt đỏ và 03 mặt đen được coi là lẻ, còn 02 mặt đen và 02 mặt đỏ hay 04 mặt đen hoặc 04 mặt đỏ được coi là chẵn. Nếu đặt cược vào cửa chẵn kết quả mở đĩa cho ra 04 mặt đỏ, 04 mặt đen hoặc 02 mặt đỏ và 02 mặt đen thì thắng còn ra lẻ thì thua. Nếu đặt cược vào cửa lẻ, kết quả mở đĩa cho ra 01 mặt đen và 03 mặt đỏ hoặc 01 mặt đỏ và 03 mặt đen thì thắng còn ra chẵn thì thua. Khi chơi xóc đĩa thì P và Ú thay nhau làm cái, số còn lại làm con. Cái lắc con vị sau đó các con sẽ đặt số tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng cho một trong hai mặt chẵn hoặc lẻ. Khi chơi không có ai bảo kê và thu tiền xâu.

Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 02 tháng 8 năm 2025, khi những người này đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an xã B, tỉnh Đồng Nai tiến hành kiểm tra, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đồng thời thu giữ tang vật gồm:

Tại chiếu bạc số tiền 12.000.000 đồng; 01 cái bát bằng sành màu trắng, đường kính 11cm, bát đã qua sử dụng; 01 cái đĩa bằng sành màu trắng, đường kính 18cm, đĩa đã qua sử dụng; 04 con vị hình tròn được cắt từ bài tây đường kính 02cm.

Trên người các bị cáo gồm: Đ số tiền cầm trên tay và để trước mặt là 3.000.000 đồng; Ú số tiền cầm trên tay và để tiền trước mặt là 3.800.000 đồng; T2 số tiền cầm trên tay và để trước mặt là 1.200.000 đồng; P số tiền cầm trên tay và để trước mặt là 4.000.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định, số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau: Đ mang theo số tiền 2.000.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; P mang theo số tiền 2.000.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; T2 mang theo số tiền 1.400.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; Ú mang theo số tiền 1.700.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; L2 mang theo số tiền 2.000.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; Đ1 mang theo số tiền 300.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; M mang theo số tiền 1.000.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; T4 mang theo số tiền 1.600.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 12.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 12.000.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc và trên người các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là vật chứng vụ án nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 cái bát sành màu trắng đường kính 11cm; 01 cái đĩa bằng sành màu trắng đường kính 18cm; 04 con vị hình tròn được cắt từ bài tây đường kính 02cm đều đã qua sử dụng là công cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen của T4 và 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen của L2, quá trình điều tra xác định T4 và L2 không sử dụng điện thoại vào mục đích đánh bạc nên việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng số B4532 ngày 05 tháng 9 năm 2025 trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với 01 xe mô tô Wave màu xanh biển kiểm soát 93P2-637.14 của Đ1 mua cho vợ là bà Nguyễn Nữ Tú T7; 01 xe mô tô Wave màu trắng biển kiểm soát 93P2-432.99 của M mua cho vợ là bà Khuất Thị Thu N1; 01 xe mô tô Dream màu tím biển kiểm soát 61F3-8115 của P; 01 xe mô tô Sirius, biển kiểm soát 93G1-08675 của T2, quá trình điều tra xác định các bị cáo không sử dụng các phương tiện trên vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng số B4532 ngày 05 tháng 9 năm 2025 trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu.

Tại Bản cáo trạng số 03/CT-VKSKV11, ngày 22 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Ú; Đ; P; Thược; T4; Đ1; L2; M về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ Luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Ú từ 12 – 15 tháng cải tạo không giam giữ.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Đ từ 12 – 15 tháng cải tạo không giam giữ.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo P từ 12 – 15 tháng cải tạo không giam giữ.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo T2 từ 12 – 15 tháng cải tạo không giam giữ.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo T4 từ 15 – 18 tháng cải tạo không giam giữ.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Đại từ 15 – 18 tháng cải tạo không giam giữ.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo L2 từ 12 – 15 tháng cải tạo không giam giữ.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo M từ 12 – 15 tháng cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo hiện nay không có thu nhập ổn định nên không áp dụng.

Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 03/CT-VKSKV11 ngày 22 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai đã truy tố.

[2.1] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, thấy phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản thu giữ tài sản, vật chứng vụ án, Kết luận điều tra cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Thấy phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ khoảng 20 giờ ngày 01 tháng 8 năm 2025 đến khoảng 02 giờ ngày 02 tháng 8 năm 2025, tại nhà của bị cáo Đ thuộc thôn B, xã B, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo Ú, Đ, P, T2, T4, Đ1, L2, M đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “xóc đĩa” thắng thua với tổng số tiền là 12.000.000 đồng thì bị lực lượng Công an xã B phát hiện bắt quả tang. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự 2015.

[2.2] Do đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo cùng nhau khởi xướng thực hiện hành vi phạm tội mà không có sự bàn bạc từ trước. Chính bị cáo Đ là người chuẩn bị công cụ, phương tiện để phục vụ đánh bạc để các bị cáo Ú và Phi thay nhau thực hành làm cái, còn các bị cáo T2, T4, Đ1, L2, M là người tham gia chơi xóc đĩa.

Quá trình điều tra, xác định số tiền mà các bị cáo mang theo và sử dụng vào việc đánh bạc như sau:

Bị cáo Đ mang theo số tiền 2.000.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; bị cáo P mang theo số tiền 2.000.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; bị cáo T2 mang theo số tiền 1.400.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; bị cáo Ú mang theo số tiền 1.700.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; bị cáo L2 mang theo số tiền 2.000.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; bị cáo Đ1 mang theo số tiền 300.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; bị cáo M mang theo số tiền 1.000.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; bị cáo T4 mang theo số tiền 1.600.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 12.000.000 đồng.

Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, trong quá trình thực hiện tội phạm, các bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Mặc dù biết rõ việc “Đánh bạc” là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, muốn có tiền một cách nhanh chóng mà các bị cáo đã thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của khu dân cư. Hành vi đó còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm chiếm đoạt tài sản để có tiền đánh bạc.

Hơn nữa trong vụ án này, riêng bị cáo T4 và bị cáo Đ1 là người có nhân thân xấu, cụ thể là: Ngày 12 tháng 8 năm 2020 bị cáo T4 thực hiện hành vi đánh bạc nên bị Công an xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước (nay là Công an xã B, tỉnh Đồng Nai) xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng (Quyết định số 02/QĐ-XPHC) đã chấp hành xong; Ngày 13 tháng 8 năm 2012 bị cáo Đ1 bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Đồng Nai) xử phạt 7.000.000 đồng về hành vi đánh bạc (Bản án số 85/2012/HSST) đã chấp hành xon, nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho mình mà lần này các bị cáo tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Vì vậy tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Ú; Đ; P; Thược; T4; Đ1; L2; M về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, cần xử các bị cáo một mức án nghiêm nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Ú; Đ; P; T2; L2; M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; riêng các bị cáo T4; Đ1 thành khẩn khai báo; không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.

[3] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo hiện nay không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 12.000.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc và trên người các bị cáo đã sử dụng vào mục đích đánh bạc là vật chứng vụ án nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 cái bát sành màu trắng đường kính 11cm; 01 cái đĩa bằng sành màu trắng đường kính 18cm; 04 con vị hình tròn được cắt từ bài tây đường kính 02cm đều đã qua sử dụng là công cụ mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen của bị cáo T4 và 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen của bị cáo L2, quá trình điều tra xác định các bị cáo không sử dụng những phương tiện này vào mục đích đánh bạc nên việc Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công nan tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết định xử lý vật chứng số B4532 ngày 05 tháng 9 năm 2025 trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề để xử lý.

Đối với 01 xe mô tô Wave màu xanh biển kiểm soát 93P2-637.14 của bị cáo Đ1 mua cho vợ là bà Nguyễn Nữ Tú T7; 01 xe mô tô Wave màu trắng biển kiểm soát 93P2-432.99 của bị cáo M mua cho vợ là bà Khuất Thị Thu N1; 01 xe mô tô Dream màu tím biển kiểm soát 61F3-8115 của bị cáo P; 01 xe mô tô Sirius biển kiểm soát 93G1-08675 của bị cáo T2, quá trình điều tra xác định các bị cáo không sử dụng các phương tiện nêu trên vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết định xử lý vật chứng số B4532 ngày 05 tháng 9 năm 2025 trả lại tài sản trên cho các chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề để xử lý.

[5] Đối với phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai tại phiên tòa thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc Ú; Nguyễn Tiến Đ; Trương Anh P; Trịnh Đình T2; Nguyễn Hữu T4; Nguyễn Hữu Đ1; Nguyễn Văn L2; Nguyễn Chí M phạm tội “Đánh bạc”.

  2. Về hình phạt:
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015.
    • Xử hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Ú 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 06 ngày bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 8 năm 2025 đến ngày 07 tháng 8 năm 2025, quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Bản án và quyết định thi hành án.
    • Tuyên giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015.
    • Xử hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Tiến Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 06 ngày bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 8 năm 2025 đến ngày 07 tháng 8 năm 2025, quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Bản án và quyết định thi hành án.
    • Tuyên giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015.
    • Xử hình phạt chính đối với bị cáo Trương Anh P 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 06 ngày bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 8 năm 2025 đến ngày 07 tháng 8 năm 2025, quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Bản án và quyết định thi hành án.
    • Tuyên giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015.
    • Xử hình phạt chính đối với bị cáo Trịnh Đình T2 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 06 ngày bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 8 năm 2025 đến ngày 07 tháng 8 năm 2025, quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Bản án và quyết định thi hành án.
    • Tuyên giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015.
    • Xử hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Hữu T4 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 06 ngày bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 8 năm 2025 đến ngày 07 tháng 8 năm 2025, quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Bản án và quyết định thi hành án.
    • Tuyên giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015.
    • Xử hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Hữu Đ1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 06 ngày bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 8 năm 2025 đến ngày 07 tháng 8 năm 2025, quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Bản án và quyết định thi hành án.
    • Tuyên giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015.
    • Xử hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Văn L2 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 06 ngày bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 8 năm 2025 đến ngày 07 tháng 8 năm 2025, quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Bản án và quyết định thi hành án.
    • Tuyên giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015.
    • Xử hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Chí M 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 06 ngày bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 8 năm 2025 đến ngày 07 tháng 8 năm 2025, quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Bản án và quyết định thi hành án.
    • Tuyên giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
    • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  3. Về vật chứng của vụ án:
    • Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 12.000.000 đồng.
    • Tuyên tịch thu tiêu hủy đối với 01 cái bát sành màu trắng đường kính 11cm; 01 cái đĩa bằng sành màu trắng đường kính 18cm; 04 con vị hình tròn được cắt từ bài tây đường kính 02cm.
    • (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số NK25/22, ngày 31 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).
  4. Về án phí Hình sự sơ thẩm:
    • Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
    • Các bị cáo Nguyễn Ngọc Ú; Nguyễn Tiến Đ; Trương Anh P; Trịnh Đình T2; Nguyễn Hữu T4; Nguyễn Hữu Đ1; Nguyễn Văn L2; Nguyễn Chí M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Đồng Nai (2)
  • - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai (1);
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 11 – Đồng Nai;
  • - Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Người tham gia tố tụng (12);
  • - Lưu hồ sơ; Văn thư (2);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

VĂN PHÚ VINH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/HSST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 45/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Út và các đồng phạm phạm tội "đánh bạc"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger