Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/HSST

Ngày: 25-6-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tăng Tài Thủ

2. Bà Trần Thúy Kiên.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Toà án nhân dân quận Thốt Nốt - Thànhphố Cần Thơ.

Đại diện Việnsát nhân dân quận T - ThànhCần Thơ tham gia phiên toà: Ông Hồng Quốc V - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025, theo quyếtđưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Văn B, sinh năm 1988; nơi đăng ký thường trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T, sinh năm 1963 và bà Đào Hoa N, sinh năm 1963; Tiền án: 01 lần. Ngày 30/10/2018, bị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội Tàngtrữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/11/2019; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực T – Trại tạm giam Công an thành phố C. Có mặt.

- Bị hại: Bà Phạm Kim T1 – sinh năm 1969. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi. nghĩavụ liên quan:

1/ Bà Đào Hoa N – sinhnăm 1963. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1/ Bà Nguyễn Thị C – sinhnăm 1975. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

2/ Bà Trịnh Xuân T2 – sinhnăm 1969. Địa chỉ: Khu V L, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mối quan hệ quen biết nên vào chiều ngày 05/5/2021 Trần Văn B đến tiệm bán bún của bà Phạm Kim T1 và Nguyễn Thị C để nói chuyện. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, B thấy T3 chuẩn bị dọn dẹp tiệm và có tháo 02 chiếc nhẫn vàng 18k (01 chiếc trọng lượng 02 chỉ, mặt nhẫn là hột hình vuông có nhiều cạnh hình lục giá và 01 chiếc nhẫn trọng lượng 0,5 chỉ, loại nhẫn trơn) và 01 cái đồng hồ đang đeo trên tay cùng 01 điện thoại di động Oppo cất vào 01 chiếc túi để trên ghế trong tiệm bán bún. Bền nảy sinh ý định chiếm đoạt các tài sản bán lấy tiền tiêu xài, B quan sát bà T3 và bà C đang dọn dẹp tiệm, lợi dụng lúc T3 và bà C không để ý đến tài sản Bền lấy trộm chiếc túi có 02 chiếc nhẫn vàng 18k, 01 cái đồng hồ, 01 điện thoại di động Oppovà một số vận dụng cá nhân của bà T3 bỏ chạy khỏi tiệm bún. Liền lúc này, bà T3 và bà C phát hiện truy hô rượt theo nhưng không kịp nên đến trình báo Công an phường T (Bút lục 01).

Sau khi trộm cắp tài sản của bà T3, B mang 02 chiếc nhẫn vàng 18k (trong đó: 01 chiếc trọng lượng 02 chỉ, mặt nhẫn là hột hình vuông có nhiều cạnh hình lục giá và 01 chiếc nhẫn trọng lượng 0,5 chỉ, loại nhẫn trơn) bán tại tiệm V1 ở T chợ T5 được khoảng 7.000.000 đồng; B tiếp tục nhờ người bạn tên T4 (không biết họ, tên và địa chỉ cụ thể) chở đến tiệm Đ bán 01 điện thoại di động Oppo với giá 1.200.000 đồng. Sau đó, B nhờ T4 chở quay lại chợ T5 để bán cái đồng hồ nhưng không ai mua nên B ném 01 túi xách bên trong có 01 đồng hồ và một số đồ dùng cá nhân do không có giá trị xuống sông T. Do lo sợ bị Công an phát hiện nên Trần Văn B bỏ trốn đến ngày 11 tháng 3 năm 2025, Trần Văn B ra đầu thú.

Tại Bản Kếtđịnh giá số 45/BKL-HĐĐGTS ngày 18/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận T kết luận:

  • - 01 (một) giỏ xách bằng da có ba ngăn dây kéo.
  • - 01 (một) điện thoại di động OppoA39 cảm ứng màu vàng đồng, đã qua sử dụng 03 năm;
  • - 01 (một) chiếc nhẫn vàng 18K, trọng lượng 02 chỉ, mặt nhẫn màu đen, mặt nhẫn có hình vuông có nhiều cạnh hình lục giác;
  • - 01 (một) chiếc nhẫn vàng trọng lượng 0,5 chỉ, loại nhẫn cưới trơn;
  • - 01 (một) chiếc đồng hồ đeo tay, đã qua sử dụng mua với giá khoảng 4.000.000 đồng, cách đây hơn một năm.

Tất cả tài sản trên không thu hồi được nên không xác định được giá trị tài sản nên Hội đồng thống nhất không định giá các tài sản nêu trên (Bút lục 64).

Kết luận định giá tài sản số 38/BKL-HĐĐGTS ngày 29/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận T, kết luận: 01 (một) chỉ vàng 18k tại thời điểm ngày 05/5/2021 có giá trị 4.000.000 đồng (Bút lục 67 - 68).

Về trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Kim T1 yêu cầu bồi thường tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 18.000.000 đồng. Trần Văn B đồng ý bồi thường và đã tác động gia đình bồi thường cho bà T1 số tiền 18.000.000 đồng (Bút lục 79); phía bà T1 xin bãi nại cho B (Bút lục 80).

Đối với người tên T4 chở Trần Văn B đi bán điện thoại do B không xác định được nhân thân cụ thể nên chưa tiến hành làm việc được. Đối với bà Trịnh Xuân T2 là quản lý buôn bán tại tiệm V1 và tiệm Đ không xác định được B có đến bán vàng và điện thoại không do không quen biết B và không ghi chép thông tin khách hàng giao dịch tại tiệm, Cơ quan Cảnhsát điều tra không đề cập đến vấn đề xử lý.

Tại Cáo trạng số 46/CT-VKSTN ngày 05 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt truy tố Trần Văn Bền về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, thống nhất nội dung Cáotrạng Viện kiểm sát truy tố; đồng thời thống nhất với kết luận định giá tài sản nêu trên. Ngoài ra, bị cáo không có ý kiến gì khác. (Bút lục 114-125).

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố,không bổ sung gì thêm, đồng thời phát biểu quan điểm luận tội, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bị cáo Trần Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản".

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụngkhoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn B mức án từ01năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Phạm Kim T1 đã nhận đủ số tiền do bị cáo Bồi thường nên không yêu cầu bồi thường, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự nên không đề cập giải quyết.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Bị cáo không tham gia tranh luận, đồng thời bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa có bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Xét thấy trong điều tra đã thu thập được lời khai của những người vắng mặt, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lại lời khai của những người vắng mặt tại Toà. Do đó, việc vắng mặt của bị hại, người liên quan và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều293 của Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.

[3] Về nội dung: Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ như: Các biên bản về hoạt động điều tra, biênghi lời khai của bị hại, người làm chứng và kết luận định giá... Như vậy, có cơ sở để xác định ngày 05/5/2021, Trần Văn B có hành vi lén lút lấy trộm 01 túi xách của bà Phạm Kim T1 bên trong có: 01 điện thoại di động Oppocảm ứng màu vàng đồng; 01 nhẫn vàng trọng lượng 02 chỉ, mặt nhẫn màu đen, mặt nhẫn có hình vuông có nhiều cạnh hình lục giác; 01 nhẫn vàng trọng lượng 0,5 chỉ, loại nhẫn cưới trơn;01 chiếc đồng hồ đeo tay cùng một số vật dụng khác. Qua kết luận định giá đủ cơ sở xác định 01 nhẫn vàng trọng lượng 02 chỉ, mặt nhẫn màu đen, mặt nhẫn có hình vuông có nhiều cạnh hình lục giác; 01 nhẫn vàng trọng lượng 0,5 chỉ, loại nhẫn cưới trơn có tổng giá trị là 10.000.000 đồng. Hành vi sai trái mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét, bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ nhận thức để biết được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì mong muốn có tiền để tiêu xài mà không phải tốn công sức lao động chính đáng nên bị cáo bất chấp quy định của pháp luật thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo còn bỏ trốn và bị truy nã, gây khó khăn cho hoạt động điều tra. Về nhân thân, bị cáo đang có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng không biết lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân, sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản của người khác. Từ đó cho thấy, ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là rất kém. Hành vi bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, đồng thời còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên bị cáo phải gánh chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hìnhsự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đến thái độ khai báo của bị cáo trong điều tra và tại phiên tòa có thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thấy được việc làm sai trái của bản thân nên bị cáo đã ra đầu thú và tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, khắc phục hậu quả xong; quá trình điều tra phía bị hại có đơn bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo làcác tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

[8] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về vấn đề khác: Đối với người tên T4 chở B đi bán điện thoại do B không xác định được nhân thân cụ thể nên chưa tiến hành làm việc được. Đối với bà Trịnh Xuân T2 là quản lý buôn bán tại tiệm V1 và tiệm Đ không xác định được B có đến bán vàng và điện thoại không do không quen biết B và không ghi chép thông tin khách hàng giao dịch tại tiệm nên không đề cập xử lý là phù hợp.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

[11] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát làcó cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b,khoản 1, khoản Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

* Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bịTrần Văn Bền phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Hình phạt chính: Xử phạt Trần Văn B 01 (một) năm tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 11/3/2025.

Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyếtsố 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

* Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

* Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hànhán dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND Q. Thốt Nốt;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Thốt Nốt;
  • - Chi cục THADS quận Thốt Nốt;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Mộng Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/HSST ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 45/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger