Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 45/2025/HSST

Ngày 19/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà La Thị Thành; Ông Nguyễn Trung Kiên.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Tòng Văn Tc- Kiểm sát viên.

Ngày 19/3/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 42/2025/TLST-HS ngày 10/02/2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST-HS ngày 07/3/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: LƯỜNG VĂN BÌNH

Giới tính: Nam; Sinh ngày 28/12/2001, tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản S, xã P huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Con ông Lường Văn X, sinh năm 1983 và bà Châu Thị T, sinh năm 1984; Gia đình bị cáo có 03 anh, em; bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: ngày 13/4/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 04/5/2024, hiện chưa được xóa án tích; Tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 02/11/2024, tạm giam từ ngày 11/11/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T (nay là P trại tạm giam Công an huyện T) cho đến nay (có mặt).

Người bào chữa: Ông Nguyễn Mạnh H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 02/11/2024, Lường Văn B đi ôm của một người không rõ lai lịch từ bản Sam Sẩu, xã P, huyện T đến bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu tìm mua Heroine để sử dụng. Tại bản Noong Thăng, Lường Văn B gặp một người đàn ông không rõ lai lịch có tên là “Lập”. Qua nói chuyện, B đã mua của “Lập” 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng) với số tiền 300.000 đồng. Mua được H1, B đi vào bụi cây ven đường, cấu lấy một ít sử dụng. Số Heroine còn lại chưa sử dụng hết, Bình gói lại như cũ và gói thêm bên ngoài bằng mảnh ni lon màu trắng, cất giấu trong túi quần sau, bên phải không cho ai biết. Đến hồi 10 giờ 20 phút cùng ngày, khi Lường Văn B đang ở trong bản Noong Thăng, xã P, huyện T thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ trong túi quần sau, bên phải của Lường Văn B 01 gói Heroine (được gói bên ngoài bằng mảnh ni lon màu trắng).

Tại Kết luận giám định số 98 ngày 02/11/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 1185 ngày 06/11/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: “số chất bột màu trắng thu giữ của Lường Văn B có khối lượng 0,26 gam; là ma túy, loại: Heroine”

Vật chứng của vụ án gồm: 0,26 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã trích gửi giám định 0,12 gam, còn lại 0,14 gam; 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; hiện số vật chứng còn lại đang được bảo quan theo quy định.

Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, truy tố bị cáo Lường Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38/Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt Lường Văn B từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí HSST cho bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu 0,14 gam Heroine còn lại; 01

2

mảnh giấy bạc màu vàng; 01 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ bì niêm phong vật chứng để tiêu hủy.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Bị cáo Lường Văn B là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn có phần hạn chế. Quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung, miễn án phí HSST cho bị cáo.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Lường Văn B xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Người bào chữa thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định tại Điều 73/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Vào hồi 10 giờ 20 phút ngày 02/11/2024, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, Lường Văn B bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang khi đang tàng trữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,26 gam nhằm mục đích sử dụng. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự.

[3]. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

3

Hành vi bị cáo Lường Văn B thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.

[4]. Về mục đích phạm tội của bị cáo: Lường Văn B là đối tượng nghiện chất ma túy, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để phục vụ nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân bị cáo.

[5]. Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Lường Văn B được sinh ra trong gia đình lao động, nhưng không tu dưỡng, rèn luyện mà lại ăn chơi, đua đòi dẫn đến bị nghiện chất ma túy. Để có ma túy thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chưa được xoá án tích nhưng không lấy làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận. Người bào chữa đề nghị áp dụng hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là không phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội trong hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, nên không có căn cứ chấp nhận. Cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp để bị cáo có điều kiện cải tạo, cai nghiện trở thành người có ích.

Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là có căn cứ, vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xoá án tích, vì vậy phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249/Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

4

[6]. Về vật chứng: Đối với 0,26 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã trích gửi giám định 0,12 gam, không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét, số Heroine còn lại là 0,14 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ bì niêm phong vật chứng, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

[7]. Vấn đề liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc H1, bị cáo Lường Văn B khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch có tên là “Lập”. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu không có người nào tên là “Lập” nên không có căn cứ để làm rõ, xử lý

[8]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên toà có đề nghị miễn án phí nên sẽ được miễn án phí HSST.

[9]. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp Tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn B 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

  3. Về vật chứng: Tịch thu 0,14 gam Heroine còn lại, 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ bì niêm phong vật chứng để tiêu hủy.

    Các vật chứng, đồ vật nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/02/2025 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên.

  4. Về án phí: Bị cáo Lường Văn B được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

5

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - PV06 Công an tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - Phân trại tạm giam khu vực T;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ quan ĐT Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Đoàn Trung Phước

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/HSST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự)

  • Số bản án: 45/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lường Văn B Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger