|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2025/HS-PT
Ngày: 22/5/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;
Các Thẩm phán: Ông Võ Nguyên Tùng và bà Lê Thị Thái Lan;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 22 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 19/2025/TLPT-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Nhật T và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo, bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2025/HS-ST ngày 08/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Hoà, tỉnh Phú Yên.
Bị cáo có kháng cáo:
-
Nguyễn Nhật T (tên gọi khác: B), sinh ngày 01/01/1995 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; con ông Nguyễn Thành A, sinh năm 1975 và bà Dương Thị L, sinh năm 1975; có vợ Lê Thị Tuyết N (đã ly hôn) và 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Ngày 14/8/2019 bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên tuyên phạt 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Ngày 16/01/2020 đã chấp hành xong án phạt tù. Bị cáo tại ngoại; có mặt.
-
Nguyễn Nhật T1 (tên gọi khác: B1), sinh ngày 17/10/1997 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; con ông Nguyễn Thành A, sinh năm 1975 và bà Dương Thị L, sinh năm 1975; có vợ Trần Lê Mỹ D và 01 con sinh năm 2024; tiền sự; tiền án: Không; nhân thân: Ngày 14/8/2019 bị TAND tỉnh Phú Yên tuyên phạt 09 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Ngày 28/4/2020 đã chấp hành xong án phạt tù; Bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhật T: Ông Ngô Thiên P Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh P. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị hại có kháng cáo: Ông Phạm Huy C,sinh năm 1991, nơi cư trú: thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Hiện trí tại: khu phố T, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Ngô Minh T2 Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh P. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 31/01/2024, bị cáo Nguyễn Nhật T đang ngồi với Nguyễn Duy T3 ăn nhậu ở quán Ố của ông Lưu Đình C1 thuộc thôn N, xã S, huyện S, thì Phạm Huy C, Lê Văn H đến quán để mua bia. H đến bàn của bị cáo T, T3 ngồi nói chuyện còn C đi ra bên hông của quán tiểu vào chậu cây bông cúc của bị cáo T và bị cáo Nguyễn Nhật T1 (là em ruột của bị cáo T) đang trưng bày bán hoa tết. Lúc này khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, Nguyễn Đức T4 đang phụ bán quán Ốc Đ, thấy C tiểu vào chậu bông cúc nên Tin đi lại chỗ bị cáo T1 và kể lại sự việc C tiểu vào chậu bông cúc cho bị cáo T1 nghe, bị cáo T1 hỏi C tại sao tiểu vào chậu bông cúc nên giữa bị cáo T1 và C xảy ra cải vã. Bị cáo T nghe bị cáo T1 và C cãi nhau nên cầm ghế gỗ có khung sắt đi đến chỗ C và bị cáo T1; C nói với bị cáo T1 “mày thích gì, đụng tao thử coi”, bị cáo T1 liền dùng chân đạp vào người C một cái, bị cáo T cầm ghế gỗ đánh 01 cái trúng vào mang tai bên trái của C, bị cáo T1 cũng lao vào dùng tay, chân đánh C. C cũng xông vào dùng ghế gỗ đánh về phía bị cáo T nhưng bị cáo T dùng ghế đỡ được, C tiếp tục dùng tay, chân, đánh lại các bị cáo T, T1, rồi C và bị cáo T ôm vật nhau. Trong lúc C và bị cáo T xông vào ôm vật nhau dưới đất, C dùng răng cắn vào bụng và đùi phải của bị cáo T; Các bị cáo T, T1 cũng dùng tay, chân đánh C. Hậu quả, C bị gãy xương chính mũi, gãy xương sườn số 5 bên trái, vết thương hở ở lòng bàn chân phải; Bị cáo T bị thương ở bụng và đùi do bị C cắn, bị cáo T1 bị rách da ngón tay áp út bàn tay trái.
Kết luận giám định số 109/KLTTCT-PYPY ngày 27/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P. Kết luận: Phạm Huy C bị tổn thương tại thời điểm giám định sau khi áp dụng phương pháp cộng lùi là 13%, do vật tày và vật có cạnh sắc tác động. Nạn nhân C bị đánh vào vùng đầu, mặt, ngực là các vùng trọng yếu của cơ thể, tuy nhiên khi nạn nhân vào viện thì các chỉ số sinh tồn đều ổn định. Kết quả chụp CT Scanner không tổn thương nội sọ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2025/HS-ST ngày 08/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Hoà, tỉnh Phú Yên đã tuyên các bị cáo Nguyễn Nhật T, Nguyễn Nhật T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; Nguyễn Nhật T1 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự: Buộc các bị cáo Nguyễn Nhật T, Nguyễn Nhật T1 bồi thường cho bị hại Phạm Huy C số tiền 36.094.000 đồng; Trong đó: bị cáo Nguyễn Nhật T phải bồi thường là 23.094.000 đồng đã bồi thường 15.000.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường 8.094.000 đồng; bị cáo Nguyễn Nhật T1 phải bồi thường cho bị hại số tiền là là 13.000.000 đồng đã bồi thường 10.000.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường 3.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/01/2025, bị cáo Nguyễn Nhật T, Nguyễn Nhật T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Ngày 14/01/2025, bị hại kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt và tăng mức bồi thường dân sự đối với các bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên. Bị hại giữ nguyên kháng cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 BLTTHS; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của bị hại – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị hại, tăng hình phạt đối với bị cáo và tăng phần bồi thường dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
-
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 50 phút ngày 31/01/2024, tại Quán ốc đêm thuộc thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên, các bị cáo Nguyễn Nhật T, Nguyễn Nhật T1 đã có hành vi dùng ghế gỗ khung sắt (là hung khí nguy hiểm) đánh trúng mang tai bên trái và tay, chân Phạm Huy C gây thương tích tỷ lệ 13% nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
-
Xét kháng cáo của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo và kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng hình phạt và tăng bồi thường dân sự đối với các bị cáo, hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Đối với kháng cáo về phần hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của bị hại trái pháp luật, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội cố ý gây thương tích lại tiếp tục thực hiện tội phạm cùng loại nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện bị cáo T nộp khắc phục 8.094.000đ, bị cáo T1 nộp 3.000.000đ, là các tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp. Do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, kháng cáo của bị hại mà chấp nhận ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.
[2.1] Về phần trách nhiệm dân sự: Trên cơ sở yêu cầu của bị hại, căn cứ vào các quy định của pháp luật, cấp sơ thẩm đã tính đúng, tính đủ các các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ như sau: Chi phí nhập viện điều trị và sửa răng, phẫu thuật dập môi làm sẹo lồi: 19.894.000đ; chi phí đi lại: 1.700.000 đồng; Tiền mất thu nhập: 08 ngày 300.000 đồng/ngày = 2.400.000 đồng; T5 công người chăm sóc: 07 ngày x 300.000 ngày = 2.100.000 đồng; T5 bù đắp tổn thất tinh thần: 10.000.000 đồng. Buộc các bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền 36.094.000 đồng.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị hại yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền tái khám gồm: Tiền xe: 870.000đ; Tiền thuốc: 593.525đ; tổng cộng 1.463.525đ. Các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, mỗi bị cáo phải chịu 731.762đ. Đối với khoản tiền bù bắp tổn thất tinh thần, bị hại yêu cầu bồi thường thêm 40.000.000đ là không phù hợp nên không chấp nhận.
-
Các bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Do sửa án sơ thẩm về phần bồi thường thiệt hại nên xác định lại án phí dân sự sơ thẩm mà các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356; điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và một phần kháng cáo của bị hại – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại - Sửa bản án sơ thẩm về phần bồi thường thiệt hại;
Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Nhật T, Nguyễn Nhật T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
-
Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015; Xử phạt:
-
Bị cáo Nguyễn Nhật T - 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
Bị cáo Nguyễn Nhật T1 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
-
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự:
-
Buộc các bị cáo Nguyễn Nhật T, Nguyễn Nhật T1 bồi thường cho bị hại Phạm Huy C số tiền 37.557.525 đồng, Trong đó: bị cáo Nguyễn Nhật T phải bồi thường số tiền 23.825.762 đồng, đã bồi thường 23.094.000đ, còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 731.762 đồng; bị cáo Nguyễn Nhật T1 phải bồi thường cho bị hại số tiền 13.731.762 đồng đã bồi thường số tiền 13.000.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 731.762 đồng.
-
Bị hại Phạm Huy C được nhận số tiền 13.000.000đ do bị cáo Nguyễn Nhật T1 đã nộp (tại các biên lai thu tiền số 0001802 ngày 10/05/2024; số 0001774 ngày 12/06/2024 và số 0001822 ngày 31/03/2025) và số tiền 23.094.000 đồng do bị cáo Nguyễn Nhật T đã nộp (tại các biên lai thu tiền số 0001801 ngày 10/05/2024; số 0001773 ngày 12/06/2024 và 0001820 ngày 31/3/2025) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Hòa.
-
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong nghĩa vụ của mình thì phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và phần nghĩa vụ chưa thi hành.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-
Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
-
Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Nhật T, Nguyễn Nhật T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
-
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Nhật T phải chịu 441.288đ; bị cáo Nguyễn Nhật T1 phải chịu 300.000đ.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 45/2025/HS-PT ngày 22/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 45/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Nhật T và đồng phạm
