|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 45/2025/HS-ST Ngày 30 - 6 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mai Xuân Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Hồng Thái.
Ông Nguyễn Văn Chuyết.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên toà: Ông Đặng Trung Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại Phòng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Thị T, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 01/12; giới tính: nữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K (đã chết); con bà Phạm Thị N sinh năm 1957; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; chồng Mai Ngọc C (đã ly hôn); con: có 04 con, lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh ngày 26/02/2022. Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 31 tháng 01 năm 2024, Công an huyện T, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền: 2.500.000 đồng về hành vi chiếm đoạt tài sản. Bị cáo chưa thi hành hình phạt.
Nhân thân:
- Ngày 16/5/2013, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xử 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 08/03/2014 chấp hành xong án phạt tù và đã thi hành án dân sự.
- Ngày 29/11/2023, Công an thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền: 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo đã nộp tiền phạt ngày 08/12/2023.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 24/4/2025 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Bà Vũ Thị D, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định. (vắng mặt).
Người làm chứng: Ông Bùi Xuân H, ông Nguyễn Xuân T1. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 04/03/2025, Trần Thị T đi chợ về qua thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định thấy có đám tang, mọi người để nhiều xe đạp, xe máy tại nhà hàng xóm xung quanh không có người trông coi. T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 05/03/2025, T đi dép nhựa màu xanh, mặc quần vải màu đen, áo khoác màu xanh rêu, đội nón lá màu nâu, bịt khẩu trang màu đen, một mình đi xe đạp từ nhà đến đám tang. T cất giấu xe đạp tại bờ ruộng lúa cách đám khoảng 300m, đi bộ vào trong sân nhà bà Vũ Thị D. T thấy ở khu vực cuối sân, giáp nhà vệ sinh có một xe máy điện màu đen, không gắn biển kiểm soát, không khóa cổ khóa càng, chìa khóa cắm ở ổ xe. Quan sát xung quanh không có ai trông coi, T đi đến xe máy điện, vặn chìa khóa xe, điều khiển xe mang về nhà cất giấu. Sau đó, T đi bộ ra cánh đồng lấy xe đạp của mình đi về nhà. T lấy bút xóa vẽ lên chắn bùn sau xe 05 vạch kẻ ngang và dòng chữ “Ngọc Thắng Đ,2” mục đích thay đổi đặc điểm xe và sẽ đi tìm cửa hàng bán.
Vật chứng vụ án gồm:
Bị cáo tự nguyện giao nộp: 01 (một) xe máy điện nhãn hiệu PAWA; số loại: 133S7 PLUS; màu sơn: đen; số máy: DHF4880010170402412; số khung: RMNYADHN4HH702412; 01 (một) xe đạp màu xanh ghi, giỏ xe màu trắng; 01 (một) nón lá màu nâu; 01 (một) khẩu trang màu đen; 01 (một) áo khoác màu xanh rêu; 01 (một) quần vải dài màu đen; 01 (một) chiếc dép nhựa màu xanh. Tất cả đều đã qua sử dụng.
Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T xác định: 01 (một) xe máy điện nhãn hiệu PAWA, số loại: 133S7 PLUS; màu sơn: đen; số máy: DHF4880010170402412; số khung: RMNYADHN4HH702412 đã qua sử dụng. Giá bán tại thời điểm mua lần đầu năm 2018 là: 10.800.000 đồng (mười triệu tám trăm ngàn đồng). Giá trị còn lại tại thời điểm yêu cầu định giá ngày 05/03/2025 là 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm ngàn đồng).
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Trần Thị T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe máy điện nhãn hiệu PAWA, số loại: 133S7 PLUS; màu sơn đen; số máy: DHF4880010170402412; số khung: RMNYADHN4HH702412 đã qua sử dụng. Qua xác minh là tài sản của bà Vũ Thị D, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà D. Bà D đã nhận lại tài sản trên và không yêu cầu thêm về trách nhiệm dân sự.
Đối với 01(một) xe đạp màu xanh ghi, giỏ xe màu trắng; 01 (một) nón lá màu nâu; 01 (một) khẩu trang màu đen; 01 (một) áo khoác màu xanh rêu, 01 (một) quần dài màu đen, 01 (một) chiếc dép nhựa màu xanh là phương tiện, trang phục Trần Thị T sử dụng khi trộm cắp tài sản, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Vũ Thị D không yêu cầu đề nghị thêm về dân sự.
Bản cáo trạng số 35/CT-VKS-TN ngày 10 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh truy tố Trần Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Thị T theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành Thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố vụ án đều đúng quy định pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như lời khai của bị hại, những người làm chứng nên đủ cơ sở kết luận: Ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định, Trần Thị T có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe máy điện nhãn hiệu: PAWA có trị giá là 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng) của bà Vũ Thị D để ở sân nhà mình.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Tính chất của tội phạm nghiêm trọng thể hiện ở hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu để chiếm đoạt tài sản. Bị cáo là người có đầy đủ trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của mình. Hành vi của bị cáo Trần Thị T bị VKSND huyện Trực Ninh truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS là đúng người đúng tội đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ: HĐXX xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. HĐXX cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi, trả lại cho bị hại, bị hại không có đề nghị gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Trần Thị T 12(mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành Thi hành án.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước 01 xe đạp màu xanh ghi, giỏ xe màu trắng. Tịch thu tiêu hủy 01 nón lá màu nâu; 01 khẩu trang màu đen; 01 áo khoác màu xanh rêu, 01 quần dài màu đen, 01 chiếc dép nhựa màu xanh. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản kê biên số 48/THA ngày 17/6/2025 giữa cơ quan CSĐT Công an tỉnh N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh.
- Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Thị T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc được tống đạt Bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành dân sự./.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Mai Xuân M |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẢM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Nam Định (1 bản);
- - VKSND huyện Trực Ninh (2 bản);
- - Công an tỉnh (2 bản);
- - Chi cục THADS huyện Trực Ninh (1 bản);
- - UBND xã(1 bản);
- - Lưu HSVA (2 bản);
- - Lưu văn phòng.
Mai Xuân Mạnh
Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 45/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
