|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 45/2025/HS-ST Ngày 26-6-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Kim Diễn
Bà Phước Thị Kim Huê
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thòn, Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2025/TLST-HS, ngày 23 tháng 5 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 53/2025/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Cao Thị Thanh N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1966, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nơi thường trú và nơi ở ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn Ú (đã chết) và bà Võ Thị N1 (đã chết); chồng tên Cô Văn T (đã chết); có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 11/01/2024, bị cáo Cao Thị Thanh N bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh ra Quyết định số 227/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu” với tiền phạt 20.000.000 đồng, bị cáo chưa chấp hành xong quyết định); nhân thân: Chưa từng bị kết án; Bị cáo bị khởi tố ngày 31 tháng 12 năm 2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/12/2024 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 19/12/2024, qua tin báo của quần chúng nhân dân, Công an huyện T, tỉnh Trà Vinh tiến hành chốt chặn, kiểm tra phương tiện xe mô tô mang biển kiểm soát 84F2-9998 do bị cáo Cao Thị Thanh N trực tiếp điều khiển, đang lưu thông trên Quốc lộ E (tuyến tránh) thuộc địa phận ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (theo hướng từ ấp T, xã T về xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh). Qua kiểm tra phát hiện trên xe có vận chuyển 700 bao thuốc lá điếu nhập lậu (400 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO và 300 bao thuốc lá nhãn hiệu JET), nhận thấy vụ việc có dấu hiệu vi phạm, Công an huyện T tiến hành lập biên bản ghi nhận sự việc, tạm giữ, tang vật, phương tiện vi phạm theo quy định.
Kết quả điều tra, xác minh: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 19/12/2024, bị cáo Cao Thị Thanh N sử dụng điện thoại cá nhân liên lạc với người đàn ông tên V cư trú tại xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh để trao đổi, thoả thuận mua, bán thuốc lá điếu nhập lậu, bị cáo thỏa thuận mua 400 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO và 300 bao thuốc lá nhãn hiệu JET với giá mua cụ thể là: 17.800 đồng/01 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO và 20.800 đồng/01 bao thuốc lá nhãn hiệu JET, tổng cộng 700 bao thuốc lá điếu nhập lậu nêu trên có giá 13.360.000 đồng, việc thanh toán được thực hiện sau khi bị cáo N bán được số thuốc lá trên, thanh toán bằng tiền mặt, V đồng ý, V và bị cáo N hẹn nhau khoảng 17 giờ cùng ngày đến khu vực Miễu Ông T1 thuộc ấp L, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh để giao nhận số thuốc lá trên. Sau khi nhận thuốc lá xong trên đường về khi đến khu vực ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh thì bị lực lượng Công an huyện T kiểm tra, phát hiện, lập biên bản ghi nhận sự việc vi phạm, tạm giữ tang vật (700 bao thuốc lá điếu nhập lậu, 02 giỏ nhựa đan, 01 túi bạt, 01 đoạn gỗ, 07 túi nilong màu đen và 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 84F2 – 9998) theo quy định.
Kết quả trích lục tiền án, tiền sự: Ngày 11/01/2024, bị cáo Cao Thị Thanh N bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh ra Quyết định số 227/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu” với tổng số tiền phạt 20.000.000 đồng; Hình thức phạt bổ sung: tịch thu tang vật vi phạm hành chính (350 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET). Bị cáo N đã được tống đạt quyết định xử phạt, bị cáo không khiếu nại hoặc khởi kiện. Bị cáo N chưa chấp hành quyết định xử phạt, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà tiếp tục vi phạm.
Quá trình điều tra, bị cáo N thừa nhận hành vi buôn bán hàng cấm là 700 bao thuốc lá điếu nhập lậu nêu trên. Bị cáo N nhận thức được hành vi mua bán số lượng 700 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO, JET là hàng được nhập lậu, thuộc danh mục hàng cấm tại Việt Nam là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích, bị cáo N cố ý thực hiện hành vi. Bị cáo N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung diễn biến vụ án.
* Về việc tạm giữ và xử lý vật chứng có liên quan trong vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu là vật chứng của vụ án gồm: 700 (bảy trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó gồm: 300 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET và 400 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO), còn nguyên vẹn; 01 (một) xe mô tô mang biển kiểm soát 84F2 – 9998, bên ngoài thể hiện nhãn hiệu HONDA, loại xe DREAM, màu sơn nâu đen, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra số khung, số máy, không có giấy tờ đăng ký xe; 02 (hai) giỏ nhựa đan, màu vàng xanh, có quai màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) cái túi bạt màu xanh trắng, có quai màu vàng, trên quai có dòng chữ “RUSTA”, đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn gỗ có kích thước: chiều dài 90cm, chiều rộng 4cm, một đầu có gắn khoen trong bằng kim loại, đã qua sử dụng; 07 (bảy) túi nilong màu đen, rách nhiều vị trí, không còn nguyên vẹn, đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu liên quan đến xe mô tô biển kiểm soát 84F2 – 9998 gồm: 01 (một) Hợp đồng mua bán xe mô tô, xe máy ngày 06/7/2020 giữa bà Kim Thị Hồng C và Cao Thị Thanh N có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh, bản gốc; 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy số A0066678 do Phòng C1 Công an tỉnh T cấp ngày 13/02/2001 đối với phương tiện xe mô tô mang biển kiểm soát 84F2 - 9998, bản gốc; 01 (một) Giấy khai đăng ký, đổi biển số, cấp lại giấy chứng nhận đăng ký thay tổng thành máy, khung, màu sơn xe ngày 02/02/2001 đối với phương tiện xe mô tô mang biển số 84F2 – 9998, bản sao y; 01 (một) Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng phương tiện cơ giới đường bộ số 2986/70 ngày 23/11/2000 do Cục Đ phát hành, bản sao y; 01 (một) Tờ khai nguồn gốc xe gắn máy nhập khẩu số 001786 được Cục Hải quan Thành phố H xác nhận ngày 20/12/2000, bản sao y; 01 (một) Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước bằng tiền mặt số 004759, liên 3, ngày 19/01/2001, bản sao y; 01 (một) Tờ khai lệ phí trước bạ của bà Kim Thị Hồng C ngày 19/01/2001, bản sao y; 01 (một) Hoá đơn GTGT số 037972 ngày 02/12/2000 của Công ty TNHH T2, bản sao y; 01 (một) Hoá đơn bán hàng số 050743 ngày 10/12/2000 của Cửa hàng Đ1, bản sao y; 01 (một) Hoá đơn bán hàng số 067657 ngày 22/12/2000 của Cửa hàng xe máy Tuấn K, bản sao y.
Về nguồn gốc 700 bao thuốc lá điếu nhập lậu nêu trên, bị cáo N khai mua của người đàn ông tên V (đặc điểm nhận dạng là có vóc dáng người gầy, cao khoảng 1,7 mét, nước da ngâm đen, phát âm giọng nói như người dân tộc khmer, cư trú tại xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh). Tiến hành xác minh tại Công an xã Đ, huyện D xác định: từ trước đến nay, không có cá nhân nào tên V có thông tin, đặc điểm nhận dạng nêu trên đăng ký thường trú, tạm trú, sinh sống và làm việc tại địa bàn xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
Đối với thiết bị điện thoại di động mà bị cáo N sử dụng để liên lạc với V, Cơ quan điều tra không thu giữ được, lý do: thiết bị điện thoại (trong đó có sim điện thoại) của bị cáo N đã bị đánh rơi mất trên đoạn đường từ khu vực Miễu Ông T1 thuộc ấp L, xã Đ, huyện D đến ấp T, xã T, huyện T vào ngày 19/12/2024, bị cáo không xác định được thời điểm đánh rơi và vị trí đánh rơi. Bị cáo N trình bày không nhớ được số điện thoại của V và của bị cáo do thời gian xảy ra đã lâu, đồng thời do bị cáo đã làm rơi mất điện thoại (loại điện thoại sử dụng phím bấm vật lý, không cảm ứng) và mảnh giấy ghi số điện thoại của V. Số điện thoại của bị cáo sử dụng là do chồng bị cáo (Cô Văn T) sử dụng số điện thoại khuyến mãi khi còn sống, sau khi ông T chết (năm 2019), bị cáo tiếp tục sử dụng số điện thoại này để liên lạc đến khi bị rơi mất điện thoại và sim điện thoại vào ngày 19/12/2024. Từ đó không thể xác định được đối tượng tên V mà bị cáo N đã giao dịch thuốc lá.
Tại Cáo trạng số 44/CT-VKS-HS, ngày 23 tháng 05 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Cao Thị Thanh N về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Cao Thị Thanh N trình bày thừa nhận ngày 19/12/2024 bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 84F2 - 9998 đến địa bàn xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh mua của người tên V 700 bao thuốc lá điếu nhập lậu (400 bao hiệu HERO và 300 bao hiệu JET) nhằm mục đích đem về bán lại kiếm lời. Khi bị cáo vận chuyển thuốc lá đến địa bàn ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh thì bị Công an huyện T kiểm tra phát hiện lập biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm. Bị cáo không thay đổi lời khai.
Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, vai trò, tính chất mức độ hành vi của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Cao Thị Thanh N phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Đề nghị áp dụng điểm e khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Cao Thị Thanh N từ 01 năm đến 02 năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm đến 04 năm, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tinh T giám sát, giáo dục.
Về trách nhiệm bồi thường: Không có
Vật chứng vụ án: Đối với 700 (bảy trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó gồm: 300 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET và 400 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO), còn nguyên vẹn; 02 (hai) giỏ nhựa đan, màu vàng xanh, có quai màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) cái túi bạt màu xanh trắng, có quai màu vàng, trên quai có dòng chữ "RUSTA", đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn gỗ có kích thước: chiều dài 90cm, chiều rộng 4cm, một đầu có gắn khoen trong bằng kim loại, đã qua sử dụng; 07 (bảy) túi nilong màu đen, rách nhiều vị trí, không còn nguyên vẹn, đã qua sử dụng là vật chứng vụ án, căn cứ cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị cần tịch thu và tiêu huỷ; đối với 01 xe mô tô mang biến kiểm soát 84F2 – 9998 là phương tiện dùng vào việc phạm tội phải bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo trong lúc quá túng quẩn đã nhất thời vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con bị bại liệt và cháu nội còn nhỏ không nơi nương tựa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Cao Thị Thanh N có lời khai ngày 19/12/2024, bị cáo Cao Thị Thanh N điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 84F2 - 9998 đến địa bàn xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh mua 700 bao thuốc lá điếu nhập lậu (400 bao hiệu HERO và 300 bao hiệu JET), nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Đến khoảng 17 giờ 50 phút, cùng ngày trên đường vận chuyển thuốc lá đến địa bàn ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, bị cáo N bị Công an huyện T kiểm tra phát hiện và lập biên bản ghi nhận sự việc, tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm. Lời khai của bị cáo Cao Thị Thanh N tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoan điều tra, truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo Cao Thị Thanh N phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với thời gian bị cáo có mặt tại hiện trường vụ án và biên bản thu giữ vật chứng là 700 bao thuốc lá điếu nhập lậu, 01 xe mô tô biển kiểm soát 84F2 – 9998. Theo quy định tại Nghị định 98/2020/NĐ-CP, ngày 26/8/2020 của Chính phủ thì thuốc lá điếu nhập lậu là hàng hóa cấm buôn bán. Bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này nên buộc phải nhận thức rõ thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm, việc buôn bán là vi phạm pháp luật. Mặt dù, số lượng thuốc lá điếu nhập lậu là dưới 1.500 bao theo quy định của cấu thành cơ bản tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nhưng vào ngày 11/01/2024, bị cáo Cao Thị Thanh N đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh ra Quyết định số 227/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu” với tổng số tiền phạt 20.000.000 đồng, đến ngày 19/12/2024 bị cáo chưa chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) mà còn vi phạm với lỗi cố ý trực tiếp.
[3] Hành vi của bị cáo Cao Thị Thanh N đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là quản lý nhà nước về xuất nhập khẩu, buôn bán hàng hóa. Đồng thời, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng, cạnh tranh thương mại không lành mạnh, mất an toàn thị trường nội địa. Bị cáo Cao Thị Thanh N là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo Cao Thị Thanh N đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm e khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Cao Thị Thanh N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, học vấn thấp (lớp 04/12) nên nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế. Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo N thuộc diện khó khăn, bị cáo N là lao động duy nhất (bán vé số dạo và gà, vịt thịt tại chợ X) trong gia đình phải chăm sóc, nuôi dưỡng cháu nội tên Nguyễn Gia B, sinh năm 2014 và con trai tên Cô Cao Thành V1, sinh năm 1990 bị khuyết tật đặc biệt nặng, không đi lại được và không có khả năng lao động; bị cáo được Ủy ban nhân dân xã N xác nhận có bác ruột có công với cách mạng được tặng nhiều Huân, Huy chương. Xét đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo N theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Cao Thị Thanh N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Xét thấy nếu như xử phạt tiền là hình phạt chính thì bị cáo N sẽ không có khả năng thi hành án, nếu bắt bị cáo N chấp hành hình phạt tù thì gia đình bị cáo sẽ gặp khó khăn đặc biệt, con của bị cáo và cháu nội của bị cáo sẽ không có ai chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy bị cáo N có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo N có nơi cư trú rõ ràng và nếu không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 04 năm, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tinh T (sau sáp nhập ngày 01/7/2025 là xã T, tỉnh Vĩnh Long) giám sát, giáo dục là có căn cứ chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 700 (bảy trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó gồm: 300 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET và 400 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO), còn nguyên vẹn; 02 (hai) giỏ nhựa đan, màu vàng xanh, có quai màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) cái túi bạt màu xanh trắng, có quai màu vàng, trên quai có dòng chữ "RUSTA", đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn gỗ có kích thước: chiều dài 90cm, chiều rộng 4cm, một đầu có gắn khoen trong bằng kim loại, đã qua sử dụng; 07 (bảy) túi nilong màu đen, rách nhiều vị trí, không còn nguyên vẹn, đã qua sử dụng là vật chứng vụ án cần tịch thu và tiêu huỷ. Đối với 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 84F2 - 9998, có tài liệu chứng minh bị cáo mua hợp pháp, đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội phải bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
[8] Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố và thấy rằng các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 268 và Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố: Bị cáo Cao Thị Thanh N phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Cao Thị Thanh N 01 (một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tinh T (từ ngày 01/7/2025 là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Vĩnh Long) giám sát, giáo dục.
Trường hợp bị cáo Cao Thị Thanh N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Cao Thị Thanh N cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo N phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu huỷ 700 (bảy trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó gồm: 300 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET và 400 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO), còn nguyên vẹn; 02 (hai) giỏ nhựa đan, màu vàng xanh, có quai màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) cái túi bạt màu xanh trắng, có quai màu vàng, trên quai có dòng chữ "RUSTA", đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn gỗ có kích thước: chiều dài 90cm, chiều rộng 4cm, một đầu có gắn khoen trong bằng kim loại, đã qua sử dụng; 07 (bảy) túi nilong màu đen, rách nhiều vị trí, không còn nguyên vẹn, đã qua sử dụng.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 84F2 - 9998, bên ngoài thể hiện nhãn hiệu HONDA, loại xe DREAM, màu sơn nâu đen, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra số khung, số máy, không có giấy tờ đăng ký xe;
Về án phí: Buộc bị cáo Cao Thị Thanh N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Cao Thị Thanh N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Truyền |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Kim Diễn – Phước Thị Kim Huê | Nguyễn Văn Truyền |
Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 45/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Thị Thanh Nương mua bán hàng cấm
