|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 45/2025/HS-ST Ngày 25-02-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lưu Văn Tỉnh |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Luyến |
| Ông Nguyễn Thanh Hải |
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Vũ Tuấn T, sinh ngày 03/7/2002, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện A (nay là phường A, quận H), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2, bị cáo chưa có vợ con; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/5/2024 đến ngày 09/5/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Tuấn T: Bà Hoàng Thị H - Luật sư Văn Phòng L, thuộc đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 13 giờ 15 phút ngày 03/5/2024, tại khu vực thôn L, xã N, huyện A (nay là phường N, quận A), thành phố Hải Phòng, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố H bắt quả tang Vũ Tuấn T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy khi đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS 15AB-05894. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với T.
Vật chứng thu giữ (Theo Kết luận giám định số 1874/KL-KTHS ngày 08/5/2024 của Phòng K - Công an thành phố H và Kết luận giám định bổ sung số 3702/KL-KTHS ngày 28/5/2024 của V - Bộ C2):
- Thu giữ trong túi giấy ở võng xe mô tô T điều khiển:
- + 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (9x13) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng qua giám định là ma túy loại Ketamine có khối lượng 49,38 gam.
- + 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (7x11) cm trong chứa các viên nén màu xám hình con gấu qua giám định là ma túy loại Methamphetamine - MDMA - Ketamine có tổng khối lượng 37,21 gam, trong đó có 1,09 gam ma túy loại Methamphetamine; 13,10 gam ma túy loại MDMA và 23,02 gam ma túy loại Ketamine.
- T3 trong túi quần bên phải T đang mặc:
- + 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (07x11) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng qua giám định là ma túy loại Ketamine có khối lượng 10,04 gam.
- + 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (09x13) cm bên trong chứa 10 viên nén màu xám qua giám định là ma túy loại MDMA có khối lượng 4,18 gam.
Ngoài ra Cơ quan Công an thu giữ của Vũ Tuấn T 01 xe mô tô BKS 15AB-058.94; 01 điện thoại di động và số tiền 9.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, xét hỏi, Vũ Tuấn T khai nhận: Do không có công việc ổn định nên T nảy sinh ý định bán ma túy kiếm lời. T quen biết và thường mua ma túy của một đối tượng tên H3 với giá 540.000 đồng/01 gam Ketamine và 150.000 đồng/01 viên thuốc lắc. Khi có khách hỏi mua ma túy, T sẽ liên lạc lấy ma túy của H3 rồi đem bán lại cho khách, khách trả tiền mua ma tuý thì T trả cho H3 tiền gốc và hưởng phần tiền lãi. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/5/2024, khi T đang ở nhà thì một đối tượng tên H1 liên lạc với T qua T4 hỏi mua 100 viên thuốc lắc và 50 gam Ketamine, T báo giá 650.000 đồng/01 gam Ketamine và 180.000 đồng/01 viên thuốc lắc, Hiệp đồng ý. T liên lạc với H3 qua T4 hỏi mua 110 viên thuốc lắc và 60 gam Ketamine thì Hòa đồng Ý và báo giá tổng số tiền mua ma tuý là 48.900.000 đồng. T bảo H3 chia Ketamine thành 02 túi gồm 01 túi 50 gam và 01 túi 10 gam; thuốc lắc chia thành 02 túi: 01 túi 100 viên và 01 túi 10 viên. Sau đó T điều khiển xe mô tô BKS 15AB-058.94 đến nhà H3 tại khu vực thôn V, xã A, huyện A (nay là phường A, quận A), thành phố Hải Phòng thì được H3 đưa cho 01 túi giấy bên trong có 01 túi nilon chứa 100 viên thuốc lắc, 01 túi nilon chứa 10 viên thuốc lắc, 01 túi nilon chứa khoảng 50 gam Ketamine và 01 túi nilon chứa khoảng 10 gam Ketamine. T nợ lại tiền hẹn khi nào bán được ma túy sẽ trả cho H3. T nhận ma túy rồi lấy túi nilon chứa 10 viên thuốc lắc và túi nilon chứa 10 gam Ketamine cho vào túi quần T đang mặc với
mục đích để bản thân sử dụng và bán lại nếu có khách hỏi mua. Số ma túy còn lại T để trong túi giấy treo ở võng xe mô tô BKS 15AB-05894 đem đi bán cho H1. Khi T vừa điều khiển xe đến cửa nhà H1 tại khu vực thôn L, xã N, huyện A (nay là phường N, quận A), thành phố Hải Phòng thì bị cơ quan Công an bắt quả tang như nội dung nêu trên.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Tuấn T khai nhận phù hợp như nội dung nêu trên. T khai đã từng nhiều lần mua ma tuý của H3 bán cho khách kiếm lời nhưng không nhớ cụ thể thời gian, số lượng ma tuý đã bán.
Tiến hành xác minh người tên H1 theo T khai là đối tượng đã đặt mua ma túy của T là Đào Vũ Minh H1, sinh năm 1997, trú tại: Thôn A, xã A, huyện A (nay là phường A, quận A), thành phố Hải Phòng. Xác minh tại địa phương, H1 vắng mặt tại nơi cư trú.
Xác minh chủ thuê bao số điện thoại 0834.438.xxx theo T khai là số điện thoại của H1, kết quả chủ sở hữu là chị Phạm Thị Diệu H2, sinh năm 1998, trú tại: Thôn A, xã A (nay là phường A), huyện A (nay là quận A), thành phố Hải Phòng. Xác minh tại địa phương, chị H2 vắng mặt tại nơi cư trú.
Tiến hành xác minh người tên H3 theo T khai là đối tượng đã bán ma túy cho T là Trần Khánh H3, sinh năm 1997, trú tại: Tổ H, thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Tại Cơ quan điều tra, H3 khai nhận có quen biết T tuy nhiên không thừa nhận việc bán ma túy cho T vào ngày 03/5/2024 như lời T khai.
Lời khai nhận tội của Vũ Tuấn T tại Cơ quan điều tra phù hợp Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định về ma tuý cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định: Hồi 13 giờ 15 phút ngày 03/5/2024, tại khu vực thôn L, xã N, huyện A (nay là phường N, quận A), thành phố Hải Phòng, Vũ Tuấn T đã có hành vi cất giữ trái phép tổng cộng 17,28 gam ma túy loại MDMA; 1,09 gam ma túy loại Methamphetamine; 82,44 gam ma túy loại Ketamine mục đích để bản thân sử dụng và bán cho khách kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Đối với Đào Vũ Minh H1, tài liệu điều tra không đủ căn cứ chứng minh H1 là người đã hỏi mua ma túy của T ngày 03/5/2024 nên Cơ quan điều tra không lập hồ sơ xử lý đối với H1 là có căn cứ.
Đối với Trần Khánh H3, tài liệu điều tra không đủ căn cứ chứng minh H3 là đối tượng đã bán ma túy cho T ngày 03/5/2024 nên Cơ quan điều tra không lập hồ sơ xử lý đối với H3 là có căn cứ.
Vật chứng của vụ án: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, số tiền 9.000.000 đồng và các đồ vật, tài sản khác được thu giữ trong quá trình điều tra chuyển Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKSHP-P1 ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phong đã truy tố bị cáo Vũ Tuấn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Vũ Tuấn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, bị cáo thừa nhận khối lượng các loại ma tuý Viện kiểm sát truy tố là đúng.
Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai người làm chứng có nội dung như bị cáo khai nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Tuấn T từ 16 năm 06 tháng đến 17 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt tiền bị cáo từ 10 triệu đến 20 triệu đồng để sung ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe máy và 01 điện thoại di động và số tiền 9.000.000 đồng thu của bị cáo.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Vũ Tuấn T đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Căn cứ các lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người chứng kiến, biên bản khám xét, biên bản thu giữ vật chứng, các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định: Ngày 03/5/2024, Vũ Tuấn T có hành vi mua bán trái phép tổng cộng 17,28 gam ma túy loại MDMA; 1,09 gam ma túy loại Methamphetamine; 82,44 gam ma túy loại Ketamine thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Vũ Tuấn T đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy vi phạm Điều 251 Bộ luật hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Ma tuý mà bị cáo Vũ Tuấn T Mua bán là 17,28 gam ma túy loại MDMA; 1,09 gam ma túy loại Methamphetamine; 82,44 gam ma túy loại Ketamine nên hành vi của bị cáo Vũ Tuấn T đã vi phạm điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự. “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này”.
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ma túy là tệ nạn xã hội, nghiện hút ma túy gây nguy hại cho sức khỏe và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Hành vi Mua bán ma túy của bị cáo làm gia tăng tệ nạn ma túy. Vì vậy, cần xét xử bị cáo với mức án thật nghiêm khắc mới đủ tác dụng răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự :
Bị cáo Vũ Tuấn T không vi phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ nên chấp nhận.
[6] Về hình phạt:
Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và khối lượng ma túy bị cáo đã mua bán, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, Khối lượng ma tuý bị cáo mua bán là 17,28 gam ma túy loại MDMA; 1,09 gam ma túy loại Methamphetamine; 82,44 gam ma túy loại Ketamine (quy đổi theo nghị định 19/CP tương đương với 45,85 gam MDMA). Nên xử phạt bị cáo mức án trên khởi điểm của khung hình phạt mới đủ để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên phạt bị cáo mức 10.000.000 (mười triệu) đồng là phù hợp.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định không được phép sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 xe máy, 01 điện thoại di động và 9.000.000 đồng thu của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[11] Các vấn đề khác: Đối với Đào Vũ Minh H1, tài liệu điều tra không đủ căn cứ chứng minh H1 là người đã hỏi mua ma túy của T ngày 03/5/2024 nên Cơ quan điều tra không lập hồ sơ xử lý đối với H1 là có căn cứ.
Đối với Trần Khánh H3, tài liệu điều tra không đủ căn cứ chứng minh H3 là đối tượng đã bán ma túy cho T ngày 03/5/2024 nên Cơ quan điều tra không lập hồ sơ xử lý đối với H3 là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm h khoản 3 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Vũ Tuấn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý, xử phạt Vũ Tuấn T 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024 .
Phạt tiền bị cáo Vũ Tuấn T 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định đựng trong các phong bì sau:
- - 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định số 3702/KL- KTHS, dấu tròn niêm phong của V, trên niêm phong có chữ kỷ của Mạc Văn C, Trương Mạnh C1.
- - 01 (một) phong bì niêm phong số 1874/KL-KTHS, dấu tròn niêm phong của Phòng K - Công an thành phố H, trên niêm phong có chữ ký của Đỗ Quang T5, Trần Liên H4.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng); 01 (một) xe máy AriBLade màu xanh đen biển kiểm soát 15AB-058.94; 01 (một) điện thoại di động iphone màu vàng, đã qua sử dụng có số IMEI: 359265389902386 và 01 (một) sim điện thoại trên có dãy số: 8401221033051968.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng và Uỷ nhiệm chi lập ngày 21/01/2025 giữa Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý- C3 với Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo, Vũ Tuấn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
|
THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Quốc Phương |
Lưu Văn Tỉnh |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Nguyễn Thị Mai Vinh Lương Thị Kim Dung Phạm Mạnh Hùng
Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 45/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 16 năm 6 tháng tù
