|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2025/HS-ST Ngày: 24-06-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lâm Hoàng Huynh.
Các Hội thẩm Nhân dân:
- Ông Đỗ Minh Tân.
- Ông Lê Anh Việt.
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tiền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Phương T; tên gọi khác: T1; Giới tính: Nữ; sinh ngày 17/10/1996, tại tỉnh Đồng Tháp; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không có; Trình độ học vấn: 08/12; Cha: Nguyễn Thanh P, sinh năm 1971(chết); Mẹ: Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1971; Anh chị em: có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; Chồng, con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 04/02/2025 bị Công an xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi xử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/3/2025; (Bị cáo có mặt tại phiên toà)
Người bị hại: ông Nguyễn Thành P1, sinh năm 1948; cư trú: ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 09/02/2025 Nguyễn Thị Phương T điều khiển xe mô tô biển số 95E2-036.37 đi từ hướng thành phố S để về nhà mình thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Khi đến cầu X thì xe hết xăng nên T xuống xe dẫn bộ, khi dẫn xe đến chợ T3 thuộc ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, T phát hiện xe mô tô biển số 66H5-2379 của ông Nguyễn Thành P1 đang đậu trước cửa nhà không người trông coi nên T nảy sinh ý định lấy trộm xe làm phương tiện đi lại. Sau đó, T đậu xe mô tô biển số 95E2-036.37 gần đó và lấy chìa khóa xe mô tô biển số 95E2-036.37 đi đến mở khóa xe mô tô biển số 66H5-2379 rồi điều khiển xe về nhà cất giấu thì bị phát hiện.
Tại bản kết luận định giá số: 16/KL-HĐĐGTS ngày 25/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: xe mô tô mang biển số 66H5-1379 mà T lấy trộm của ông Nguyễn Thành P1 có giá trị là 8.000.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ và trao trả xe mô tô biển số 66H5-1379 cho bị hại ông Nguyễn Thành P1 và ông P1 không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tạm giữ của Nguyễn Thị Phương T 01 xe mô tô mang biển số 95E2-036.37 và 01 mũ bảo hiểm màu đen. Qua điều tra xác định xe mô tô biển số 95E2-036.37 là T mượn của Phạm Minh T2, sinh năm 1993, ngụ ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp để làm phương tiện đi lại. Việc T dùng xe mô tô đi trộm cắp tài sản thì anh T2 không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả xe mô tô biển số 95E2- 036.37 cho T2, anh T2 đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì.
Tại Cáo trạng số: 44/CT-VKS-CT ngày 05/6/2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Phương T Phan Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành trong phần tranh luận giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị:
- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương T về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Đã trao trả tài sản cho bị hại xong. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không phải xem xét giải quyết.
- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: trả lại cho Nguyễn Thị Phương T 01 mũ bảo hiểm màu đen.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Qua điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai người bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 14 giờ ngày 09/02/2025, bị cáo Nguyễn Thị Phương T lợi dụng việc ông Nguyễn Thành P1 dựng xe mô tô biển số 66H5-2379 trị giá 8.000.000₫ trước cửa nhà thuộc ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp không người trông coi nên T đã lén lút lấy trộm để làm phương tiện đi lại, khi mang xe về nhà cất giấu thì bị phát hiện.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Phương T có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Bị cáo Nguyễn Thị Phương T là người đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe, không lo lao động tạo thu nhập nuôi sống bản thân, tu dưỡng để trở thành người công dân tốt, khi muốn có tiền tiêu xài cho bản thân mà không cần phải lao động, lợi dụng sự thiếu cảnh giác của bị hại, bị cáo có hành vi lén lút, bất chấp hậu quả chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Hành vi này cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Thị Phương T có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nên căn cứ điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[6] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ đã viện dẫn. Phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Nguyễn Thị Phương T và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răng đe, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật.
[7] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về vật chứng: Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: trả lại cho Nguyễn Thị Phương T 01 mũ bảo hiểm màu đen.
[9] Về án phí: bị cáo Nguyễn Thị Phương T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Phương T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương T 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: trả lại cho Nguyễn Thị Phương T 01 mũ bảo hiểm màu đen. (Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang quản lý).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
Bị cáo Nguyễn Thị Phương T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án Nhân dân Tỉnh Đồng Tháp.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lâm Hoàng Huynh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lâm Hoàng Huynh |
Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 45/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương Trinh 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
