|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 45/2025/HS-ST Ngày 21-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Văn Ái;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Thành Phương và Vương Tấn Độ.
Thư ký phiên tòa: ông Chiêm Tiền Quí Nhân-Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Hương-Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 394/2024/TLST-HS, ngày 14 tháng 11 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thái V, sinh năm 1979, tại tỉnh An Giang. Nơi thường trú: nhà số D, đường T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (thực tế không có cư trú tại đây từ năm 2012); nơi ở: nhà số A, đường T, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thái B (chết) và bà Phạm Thị V1; có vợ và 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2012; tiền án: ngày 04/11/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về “Tội cướp giật tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 28/02/2019 và quyết định khác tháng 12/2016, án tích chưa được xóa); ngày 20/8/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về “Tội trộm cắp tài sản” (với tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm”, đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 29/8/2023, án tích chưa được xóa); tiền sự: không có; nhân thân: ngày 21/03/1998, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản của công dân” (thời hạn tù tính từ ngày 04/7/1997, đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 04/4/1998 và quyết định khác ngày 02/8/2017, án tích đã được xóa); ngày 18/8/2000, bị Tòa phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh-Tòa án nhân dân Tối Cao xử phạt 07 năm tù về “Tội cướp tài sản của công dân” (đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 30/10/2006, còn về các quyết định khác thì được Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh trả lời không có thông tin về thi hành án dân sự đối với bản án này nên án tích được coi như được xóa); ngày 25/3/2008, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về “Tội cướp giật tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 11/01/2011, còn về quyết định khác thì được Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh trả lời không có thông tin về thi hành án dân sự đối với bản án này nên án tích được coi như được xóa); bị tạm giữ ngày 31-5-2024 (trong trường hợp khẩn cấp), tạm giam ngày 09-6-2024 “có mặt”;
2. Ngô Thành H, sinh năm 1985, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: nhà số E, đường M, Khu phố B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Thành P và bà Ngô Thị C; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 16/6/2016, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong Quyết định ngày 10/10/2017, được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); ngày 09/4/2020, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong Quyết định ngày 22/10/2021, được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); bị tạm giữ ngày 30-5-2024 (tính theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường B, quận B lập lúc 07 giờ 20 phút ngày 30-5-2024), tạm giam ngày 09-6-2024 “có mặt”;
3. Nguyễn Thị L, sinh năm 1987, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Bùi Thị T; có chồng (không đăng ký kết hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 29/11/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 16 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong Quyết định ngày 30/12/2018, được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); bị bắt tạm giữ ngày 30-5-2024 (tính theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường T, quận B lập lúc 07 giờ 15 phút ngày 30-5-2024), tạm giam ngày 09-6-2024 “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 29/05/2024, Nguyễn Thái V đến đường B, thuộc Quận H mua 23 đoạn ống nhựa (gọi tắt là: tép) hàn kín hai đầu có chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroin của tên H1 (không rõ lai lịch) với giá tiền 1.500.000 đồng để bán lại kiếm lời. Do lúc 06 giờ 35 phút ngày 30/5/2024, Nguyễn Thị L dùng điện thoại di động số 0567.028.xxx gọi vào điện thoại di động số 0777.223.xxx của V đặt mua 03 tép ma túy với giá 300.000 đồng và hẹn giao tại khu vực chân cầu vượt đường T, thuộc phường T, quận B nên V đến đó bán cho L 03 tép ma túy thu được 300.000 đồng. Sau khi mua được 03 tép ma túy của V, L cất vào trong túi áo khoác bên trái rồi khi trên đường đi tìm nơi để sử dụng thì lúc khoảng 06 giờ 40 phút cùng ngày, Tổ tuần tra-Đội Cảnh sát Giao thông-Trật tự-Công an quận B đến trước nhà số E, đường T, phường T, quận B nhìn thấy L có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, đã phát hiện và thu giữ từ trong túi áo khoác bên trái của L đang mặc có 01 gói giấy bên trong có 03 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu chứa chất bột màu trắng. Lúc này, L cho biết đó là ma túy loại Heroin vừa mới mua được của V để dụng nên Tổ tuần tra đã đưa L cùng với vật chứng đến Công an phường T để xử lý người có hành vi phạm tội quả tang. Sau đó lúc 06 giờ 50 phút cùng ngày, Tổ tuần tra đến khu vực giao lộ giữa Đường Số B và Đường Số A, thuộc phường B, quận B thì nhìn thấy Ngô Thành H đang điều khiển xe môtô biển số 36B5-367.43 chạy trên đường có biểu hiện nghi vấn nên ra hiệu cho H dừng xe lại để kiểm tra. Qua kiểm tra, đã phát hiện và thu giữ từ trong lòng bàn tay trái của H đang cầm 20 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu chứa chất bột màu trắng. Lúc này, H cho biết đó là ma túy loại Heroin của V giao cho H mang đến khu vực Công viên Đ để bán nên Tổ tuần tra đã đưa H cùng vật chứng đến Công an phường B để xử lý người có hành vi phạm tội quả tang. Thực hiện mở rộng điều tra đến khoảng 07 giờ cùng ngày, V đang điều khiển xe môtô biển số 59L2-044.81 chạy đến trước nhà số A, đường Q, phường T, quận B thì bị bắt giữ.
Tại Cơ quan điều tra, V, H và L đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Trong đó, V khai: đây là lần đầu tiên mua bán ma túy và toàn bộ 23 tép Heroin nêu trên là của V mua với giá 1.500.000 đồng rồi vừa mới bán cho L 03 tép thu được 300.000 đồng, 20 tép còn lại cũng vừa mới giao cho H mang đi bán với giá 2.000.000 đồng và hứa khi nào bán được sẽ trả công cho H bằng ma túy để sử dụng thì đều bị bắt giữ. Lời khai của V, H và L phù hợp nhau; đồng thời cũng phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ. Vật chứng của vụ án gồm: 23 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu chứa chất bột màu trắng (chia thành 02 nói đã niêm phong), số tiền 300.000 đồng, 05 điện thoại di động các loại, 01 xe môtô biển số 36B5-367.43, 01 cái áo thun, 01 cái quần kaki, 01 cái nón bảo hiểm và 01 xe môtô biển số 59L2-044.81 (đã trả lại cho chị Phạm Lê Thị Anh T1). Theo kết luận giám định, V phải chịu trách nhiệm hình sự với số ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,4650g, loại Heroin; còn H với số ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,2529g, loại Heroin; riêng Lụm với số ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,2121g, loại Heroin.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thái V khai: do cần có tiền tiêu xài nên bị cáo đã đến khu vực đường B, thuộc Quận H mua 23 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu có chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroin của tên H1 (không rõ lai lịch) với giá tiền 1.500.000 đồng để bán lại cho người khác kiếm lời; theo đó, bị cáo vừa mới bán được 03 đoạn ống nhựa này cho bị cáo Nguyễn Thị L với giá 300.000 đồng rồi liền tiếp tục giao 20 đoạn ống nhựa còn lại cho bị cáo Ngô Thành H mang đến khu vực Công viên Đ để bán cho người khác với giá 2.000.000 đồng theo sự hướng dẫn của bị cáo và hứa khi nào bán được bị cáo sẽ trả công cho bị cáo H bằng ma túy để sử dụng thì liền sau đó cả 03 đều bị Công an kiểm tra bắt giữ. Các bị cáo H và L thừa nhận lời khai trên của bị cáo V là hoàn toàn đúng; trong đó, bị báo Hiếu khai: bị cáo mới vừa nhận 20 tép ma túy loại Heroin của bị cáo V mang đi bán cho người khác và khi đang trên đường đi thì bị Công an kiểm tra bắt giữ; còn bị cáo L khai: bị cáo mới vừa mua 03 tép ma túy loại Heroin của bị cáo V và khi đang trên đường đi tìm nơi để sử dụng thì bị Công an kiểm tra bắt giữ nên nay các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám định ma túy và việc giải quyết vật chứng.
Tại Cáo trạng số: 349/CT-VKSQ.BT, ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thái Vinh, Ngô Thành H và Nguyễn Thị L ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử các bị cáo V và H cùng về “Tội mua bán trái phép chất ma túy”; trong đó, đối với bị cáo V theo điểm q khoản 2, còn bị cáo H theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015; riêng bị cáo L về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: bị cáo Nguyễn Thái V đã thực hiện hành vi bán ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,2121g, loại Heroin cho bị cáo Nguyễn Thị L với giá 300.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng; đồng thời, bị cáo còn đã giao cho bị cáo Ngô Thành H số ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,2529g, loại Heroin để mang đi bán cho người khác, nhưng chưa bán được thì bị bắt giữ và bị cáo đã “Tái phạm nguy hiểm”, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này cũng là “Tái phạm nguy hiểm” dùng làm tình tiết định khung hình phạt. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương; trong vụ án này, riêng 02 bị cáo V và H là đồng phạm về hành vi mua bán 1,2529g, loại Heroin, tuy chỉ giản đơn và sự cấu kết thực hiện tội phạm không chặt chẽ nên không được coi là “Có tổ chức”; nhưng xét về vai trò thì, bị cáo V có vai trò lớn bị cáo H nên cần phải xử các bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của từng bị cáo như đã nêu trên theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay: các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58 và 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo H với mức án từ 04 năm đến 05 năm tù và phạt bổ sung bị cáo với số tiền từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng về “Tội mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo L với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Còn về vật chứng, đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm: số tiền 300.000 đồng, 01 cái điện thoại di động hiệu Samsung số thuê bao 0567028048, 01 cái điện thoại di động hiệu Nokia số thuê bao 0797408376, 01 cái điện thoại di động hiệu Nokia số thuê bao 0777223549 và 01 chiếc xe môtô biển số 36B5-367.43; giao trả lại cho bị cáo V 01 cái điện thoại di động hiệu Samsung số thuê bao 0901180835 và 01 cái điện thoại di động hiệu LG số thuê bao 0931461738; tịch thu tiêu hủy gồm: 02 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã giám định, 01 cái áo thun, 01 cáo quần kaki và 01 cái nón bảo hiểm.
Các bị cáo không ai tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các bị cáo Nguyễn Thái V, Ngô Thành H và Nguyễn Thị L tại phiên tòa hôm nay cho thấy: vào lúc 06 giờ 35 phút ngày 30/5/2024, bị cáo V đã có hành vi bán 03 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu có chứa chất bột màu trắng cho bị cáo L với giá 300.000 đồng tại khu vực chân cầu vượt đường T, thuộc phường T, quận B; đồng thời lúc 06 giờ 45 phút cùng ngày, bị cáo tiếp tục giao cho bị cáo H 20 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu có chứa chất bột màu trắng tại Đường Số D, phường T, quận B để mang đến khu vực Công viên Đ bán cho người khác với giá 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo H mới vừa trên đường đi đã bị bắt giữ. Còn bị cáo H thì lúc 06 giờ 50 phút cùng ngày, bị cáo đang trên đường mang 20 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu có chứa chất bột màu trắng do bị cáo V giao để đi bán cho người khác đã bị Công an kiểm tra bắt quả tang. Riêng lúc 06 giờ 40 phút cùng ngày, tại trước nhà số E, đường T, phường T, quận B thì bị cáo L đã có hành vi cất giữ 03 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu có chứa chất bột màu trắng do vừa mới mua được của bị cáo V nhằm mục đích để sử dụng cũng bị Công an kiểm tra bắt quả tang.
[3] Theo các Kết luận giám định số: 6623/KL-KTHS và 6624/KL-KTHS, cùng ngày 07/6/2024 của Phòng K-Công an Thành phố H, lần lượt kết luận như sau: “Bột màu trắng trong 20 đoạn ống nhựa được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Ngô Thành H, Dương Quốc T2 (Điều tra viên), Nguyễn Trọng N (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường B, quận B”, được giám định “đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,2529g, loại Heroin”; “Bột màu trắng trong 03 đoạn ống nhựa (đựng trong 01 gói giấy) được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị L, Thái Tỷ H2 (người chứng kiến), Lý Văn D (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường T, quận B”, được giám định “đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,2121g, loại Heroin”.
[4] Như vậy, bị cáo V phải chịu trách nhiệm hình sự với số ma túy đều ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,4650g, loại Heroin và đồng thời bị cáo đã bị kết án với tình tiết “Tái phạm nguy hiểm”, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này cũng thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” dùng làm tình tiết định khung hình phạt; còn bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự với số ma túy đều ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,2529, loại Heroin; riêng bị cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự với số ma túy đều ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,2121g, loại Heroin. Do đó, các bị cáo V và H đã cùng phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt đối với bị cáo V được quy định tại điểm q khoản 2, còn bị cáo H được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Riêng bị cáo L đã phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được; biên bản nhận dạng, đối chất; biên bản niêm phong, mở niêm phong, kết luận giám định ma túy...nên đã đủ chứng cứ buộc tội các bị cáo và mức án đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Riêng đối với tên H1 là người bán ma túy cho bị cáo V, do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra còn đang tiếp tục truy xét cho đến khi nào phát hiện được sẽ xử lý sau.
[6] Xét chất ma túy là loại chất kích thích do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và mua bán. Các bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai và vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo V là rất nghiêm trọng, các bị cáo H và L là nghiêm trọng; không những mang tính chất liều lĩnh, xem thường pháp luật, góp phần làm lan tràn nạn nghiện ngập trong đời sống cộng đồng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương mà còn có thể có thể là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác nên cần phải xử các bị cáo mức án thật nghiêm. Trong đó, riêng các bị cáo V và H là đồng phạm về hành vi mua bán 1,2529g, loại Heroin, tuy chỉ giản đơn và sự cấu kết thực hiện tội phạm không chặt chẽ nên không được coi là “Có tổ chức”; nhưng xét về vai trò thì, bị cáo V có vai trò lớn bị cáo H nên cần phải xử các bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của từng bị cáo như đã nêu trên theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay: các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015,“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”; do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các bị cáo V và H thì, tuy 02 bị cáo không ai có nghề nghiệp và điều kiện kinh tế, nhưng do các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thu lợi nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung đối với 02 bị cáo một số tiền nhất định để sung quỹ Nhà nước mới phù hợp; riêng bị cáo L, tàng trữ ma túy chỉ để sử dụng, không có nghề nghiệp và điều kiện kinh tế nên không áp dụng.
[8] Về vật chứng: Đối với chiếc xe môtô biển số 59L2-044.81 do vợ của bị cáo V là chị Phạm Lê Thị Anh T1 đứng tên sở hữu và cho bị cáo mượn đi làm, chị T1 không có lỗi, Cơ quan điều tra đã thu hồi giao trả lại cho chị T1 nên không xét. Còn đối với số tiền 300.000 đồng của bị cáo V, là tiền do bị cáo bán ma túy cho bị cáo L có được; 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG số thuê bao 0567028048 (đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong) của bị cáo L, 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA số thuê bao 0797408376 (đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong) của bị cáo H và 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA số thuê bao 0777223549 (đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong) của bị cáo V, do đều có liên quan đến hành vi phạm tội; 01 chiếc xe môtô biển số 36B5-367.43 (đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong) của bị cáo H dùng làm phương tiện đi bán ma túy và khai: xe do mua của người không rõ lai lịch, còn qua xác minh thì xe do chị Kiều Thị Đ đứng tên sở hữu và đã bán lại cho người cũng không rõ lai lịch, vậy chiếc xe này thuộc trường hợp không xác định được chủ sở hữu thực tế nên cần tịch thu số tiền và 04 đồ vật vừa nêu để sung quỹ Nhà nước. Đối với 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG số thuê bao 0901180835 (đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong) và 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu LG số thuê bao 0931461738 (đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong) của bị cáo V, do không liên quan gì đến hành vi phạm tội nên cần giao trả lại cho bị cáo. Riêng 01 gói niêm phong bên trong có ma túy đã giám định, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị L, Thái Tỷ H2 (người chứng kiến), Lý Văn D (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường T, quận B; 01 gói niêm phong bên trong có ma túy đã giám định, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Ngô Thành H, Nguyễn Trọng N (người chứng kiến), Dương Quốc T2 (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường B, quận B là chất kích thích, Nhà nước cấm sử dụng; 01 cái áo thun màu xám kẻ sọc, 01 cái quần kaki lửng màu kem và 01 cái nón bảo hiểm màu xanh nước biển của bị cáo V sử dụng lúc thực hiện hành vi phạm tội và không nhận yêu cầu lại nên cần tịch thu tất cả các đồ vật vừa nêu để tiêu hủy.
[9] Các bị cáo Nguyễn Thái V, Ngô Thành H và Nguyễn Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ điều luật và xử phạt:
1.1. Căn cứ vào điểm q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58 và 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái V 08 (tám) năm tù về “Tội mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 31-5-2024.
- Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thái V số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.
1.2. Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58 và 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Ngô Thành H 04 (bốn) năm tù về “Tội mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 30-5-2024.
- Phạt bổ sung bị cáo Ngô Thành H số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.
1.3. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 02 (hai) năm tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 30-5-2024.
2. Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm: số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG số thuê bao 0567028048 (đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong), 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA số thuê bao 0797408376 (đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong), 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA số thuê bao 0777223549 (đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong) và 01 chiếc xe môtô biển số 36B5-367.43 (đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong).
- Giao trả lại cho bị cáo Nguyễn Thái V 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG số thuê bao 0901180835 (đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong) và 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu LG số thuê bao 0931461738 (đã qua sử dụng không kiểm tra bên trong).
- Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 gói niêm phong bên trong có ma túy đã giám định, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị L, Thái Tỷ H2 (người chứng kiến), Lý Văn D (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường T, quận B; 01 gói niêm phong bên trong có ma túy đã giám định, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Ngô Thành H, Nguyễn Trọng N (người chứng kiến), Dương Quốc T2 (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường B, quận B; 01 cái áo thun màu xám kẻ sọc, 01 cái quần kaki lửng màu kem và 01 cái nón bảo hiểm màu xanh nước biển.
(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số: NK25/54TV, ngày 13/11/2024. Riêng số tiền 300.000 đồng, đã được Công an quận B gửi vào Kho bạc Nhà nước quận B theo các giấy nộp tiền, chứng từ giao dịch, lệnh thanh toán do Ngân hàng N1-Chi nhánh B1 phát hành cùng ngày 11/7/2024)
3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo Nguyễn Thái V, Ngô Thành H và Nguyễn Thị L mỗi người phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Các bị cáo Nguyễn Thái V, Ngô Thành H và Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - Sở Tư pháp TP. HCM; - VKSND Q.BT; - CQĐT-CA Q.BT; - Nhà tạm giữ-CA Q.BT; - Chi cục THA DS Q.BT; - Trại tạm giam; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo, bị hại; - Người tham gia tố tụng khác (nếu có); - Lưu hs, Vp. |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Văn Ái |
Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 45/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về Tội mua bán trái phép chất ma túy và Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thái V và đồng phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”
