Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ P

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/HS-ST

Ngày 19/3/2025

 

NHÂN DAN

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị ThA Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Tư
  2. Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Thư ký phiên tòa: Ông Diệp Bảo Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Quỳnh Như - Kiểm sát viên

Trong ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2025/TLST - HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

LÊ HOÀNG A

(tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 10 năm 1991 tại Nghệ An; nơi cư trú: Số 118 đường N, tổ 05, phường IK, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số [...]; con ông Lê A T, sinh năm 1960 và bà Lý Thị L, sinh năm 1965; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 02 tháng 10 năm 2024. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực P (trước đây là Nhà tạm giữ Công an thành phố P) - Phòng PC 11 - Công an tỉnh Gia Lai. Có mặt tại phiên tòa.

Người tham gia tố tụng khác:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - A Lâm Văn D, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn BT, xã IL, huyện CP, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
  • - A Ksor M, sinh năm 1984; địa chỉ: Làng K, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

Người chứng kiến: Ông Trịnh Đình D, sinh năm 1958; địa chỉ: Số 03 đường LQĐ, phường IK, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hoàng A sử dụng ma túy từ khoảng thời gian cuối năm 2023. Thông qua các mối quan hệ xã hội, A biết được đối tượng tên N (không rõ nhân thân, lai lịch) có bán ma túy. Vào khoảng 14 giờ 00 ngày 02 tháng 10 năm 2024, A gọi điện thoại cho N hỏi mua 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng; N đồng ý và yêu cầu A chuyển tiền vào tài khoản điện tử Mo Mo của N. Do đang điều khiển xe mô tô hiệu Sirius, biển kiểm soát 81B1 - 762.57 đi trên đường NVC, A ghé vào một quán nước (không xác định được vị trí) sau đó gọi lại cho N để hỏi số tài khoản Mo Mo và đọc cho chủ quán (không xác định được họ tên nhân, lai lịch) nhờ người này chuyển giúp số tiền 500.000 đồng vào tài khoản Mo Mo của N. Sau khi nhận được tiền, N gọi điện thoại cho A và chỉ vị trí cất ma túy để A đến lấy. Theo sự hướng dẫn của N, A điều khiển xe đi đến đầu hẻm 283 đường TP, phường DH và lấy được 02 (hai) gói ma túy được cất trong vỏ thuốc lá hiệu Eagle tại chân cột biển tên đường; A cất ma túy vào túi quần bên trái đang mặc trên người rồi đi tìm nơi để sử dụng ma túy. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi A đi đến trước số nhà 57/2 đường ĐT, tổ 04, phường IK thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an tỉnh Gia Lai phối hợp cùng lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Qua trưng cầu giám định, tại Kết luận giám định số 909/KL- KTHS ngày 11 tháng 10 năm 2024 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Toàn bộ chất màu trắng dạng tinh thể trong 02 (hai) gói nilon trong bì thư gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,3298 gam”

Tại Bản cáo trạng số 42/CT - VKS ngày 20 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo Lê Hoàng A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Lê Hoàng A thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, bị cáo đồng ý với nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P nêu trong Bản cáo trạng, không có ý kiến khiếu nại gì đối với Kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xét xử bị cáo Lê Hoàng A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với mức hình phạt từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng đến 02 (hai) năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung. Ngoài ra Đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất hướng xử lý vật chứng và án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người chứng kiến không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối tượng tên N, theo A khai nhận là người đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra A không biết nhân thân, lai lịch của N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã kiểm tra dA bạ, N ký trong chiếc điện thoại đã thu giữ của A nhưng không xác định được số điện thoại của N; tiến hành xác minh tại địa bàn phường Diên Hồng, thành phố P nhưng không xác định được đối tượng tên N có liên quan đến hoạt động ma túy nên chưa có căn cứ để điều tra xử lý. Tổ Điều tra Khu vực I đang tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

[2] Về hành vi của bị cáo: Khoảng 15 giờ 30 ngày 02 tháng 10 năm 2024, khi Lê Hoàng A đang trên đường tìm nơi sử dụng ma túy, đi đến đoạn trước số nhà 57/2 đường Đồng Tiến, phường IK, thành phố P, tỉnh Gia Lai thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Gia Lai và Công an thành phố P phát hiện, bắt quả tang và thu giữ trong người Lê Hoàng A 02 (hai) gói nilon chứa 0,3298 gam ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong dA mục II.C được ban hành kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 quy định các dA mục chất ma túy và tiền chất; thuộc chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế. Việc sản xuất, vận chuyển, tàng trữ chất Methamphetamine phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định như sau “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây... thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: .....c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Như vậy hành vi của bị cáo Lê Hoàng A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố.

Methamphetamine là chất ma túy có nguồn gốc tổng hợp, sử dụng lâu dài ảnh hưởng đến hệ thần kinh gây nên tình trạng ảo giác, hạn chế khả năng kiểm soát hành vi từ đó người nghiện thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ ma túy để sử dụng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền chất ma túy của nhà nước, nguồn gốc phát sinh các tội phạm và những tệ nạn xã hội khác nhưng để thỏa mãn nhu cầu bản thân bị cáo vẫn thực hiện. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ sức răn đe, cảnh tỉnh bị cáo trở thành công dân tốt.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định.

[3] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Hoàng A

[4] Về vật chứng vụ án:

  • - Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 81B1 - 762.57 là tài sản của anh Ksor M, anh M không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện di chuyển mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả xe mô tô này cho anh Ksor M là phù hợp quy định của pháp luật.
  • - Đối với 01 (một) bì công văn ghi số 909/PC09 ngày 11 tháng 10 năm 2024, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai là ma túy còn lại sau khi giám định được hoàn trả, đây là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh đen, kèm thẻ sim, bị cáo sử dụng làm phương tiện liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng A 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 02 tháng 10 năm 2024.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì công văn dán kín ghi số 909/PC09 ngày 11 tháng 10 năm 2024, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai (có chữ ký họ và tên Nguyễn Minh Tâm, Hoàng Việt, Võ Đình Tài)

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh đen (kèm thẻ sim; mặt sim có dãy số 8984-04800-03373-62855) (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục Thi hành án dân sự không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong)

(Tất cả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 01 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P).

Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Lê Hoàng A phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo để Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố P;
  • - Cơ quan điều tra Công an thành phố P;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố P;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai;
  • - Chi cục thi hành án dân sự thành phố P;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Võ Thị Thanh Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 45/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma túy đá
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger